Chủ hiệu may không cho Dư nói hết. Ông ta gạt cuộn vải của Tố sang một bên, đặt lên bàn chiếc áo đã cắt xong thân mà chưa tra tay.
“Khách đến đo hai lần. Người ta cần mặc trong lễ nhà, cậu bảo tôi nói sao?”
“Tôi biết,” Tố đáp.
“Bà biết thì làm cho xong. Mắt bà vẫn nhìn được, máy vẫn chạy được.”
Dư đứng cạnh cửa, tay cầm mấy đồng lẻ. Anh nghe câu ấy và nhớ đầu ngón tay quấn chỉ đỏ của Tố. Trên bàn hiệu, kéo, kim và ghim nhỏ nằm lẫn với phấn vạch. Với anh chúng chẳng có gì đáng ngại; với bà, một mũi kim lẩn dưới vải phải đợi đến khi máu thấm ra mới bị phát hiện.
“Đường tay áo này phải vuốt mép từ bên trong,” bà nói. “Tôi không làm kịp.”
“Trước đây bà có cần nhìn đâu.”
Tố nhấc thân áo lên xem, chậm rãi đặt xuống. “Chính vì trước đây không cần nhìn nên giờ tôi mới nói không kịp.”
Ông chủ quay sang Dư. “Nhà dưỡng hứa hôm nay.”
Anh đặt tiền lên góc bàn, tránh chiếc áo. “Phần phí thử lại tôi sẽ chịu. Còn áo, xin ông giao người khác.”
Ông ta đẩy tiền trở lại bằng sống bàn tay. “Tiền ấy mua được mấy thước vải? Tôi cần người làm được việc.”
Tố cất chiếc kéo riêng vào túi. Tiếng kim loại khép lại rất nhỏ mà Dư nghe rõ. Anh sợ bà sẽ bỏ đi, mất luôn chỗ ngồi có ánh sáng cạnh cửa sổ. Nhưng bà kéo chiếc ghế thấp đến bên chồng vải lót.
“Áo này tôi bỏ công, ông tìm người tra tay. Phần lót tôi nhận, tính theo mảnh. Cho người kiểm kim trước khi tôi cầm, kiểm lại lúc tôi trả.”
“Thêm người kiểm thì công bà giảm.”
“Ông nói số công còn lại.”
Hai người mặc cả qua ba lượt. Cuối cùng Tố được giữ chỗ, nhận việc lược đường rộng và gấp vải lót. Người học việc ở bàn bên sẽ gom ghim vào hộp, xem lại ngón tay bà sau mỗi xấp. Bà chịu phần công thấp hơn, không nhận chiếc áo khó dù ông chủ nhắc thêm một lần rằng có thể làm đến khuya.
Dư bước ra sân sau hiệu. Ở đó có bể nước rửa tay, thành bể đóng một lớp rêu mỏng. Anh mở nắm tiền ra. Tố đi theo, chìa tay; anh tưởng bà muốn nhận, vội đưa tới. Bà chỉ lấy chiếc khăn anh vẫn cầm từ nhà dưỡng.
“Cậu giữ tiền ấy mà tìm bát.”
“Nhưng vì tôi dừng—”
“Cậu dừng vì nó sai. Đừng nói như thể cứ ghép vào thì tôi đã ngồi may áo được.”
Bà giặt khăn. Bà xắn tay áo cao hơn, dùng khuỷu tay thử nước trước rồi mới nhúng hai bàn tay xuống. Dư đỡ giúp đầu khăn khỏi chạm vào thành bể có rêu. Bà kéo nó lại, chỉ anh chỗ đặt chiếc chậu sạch bên cạnh. Động tác thuần thục ấy khiến anh hiểu bà đã tự học cách này trước khi anh biết tên bà.
“Bà có người đón không?” anh hỏi.
“Tôi tự về được. Chiều cậu qua, nhờ thầy viết cho tôi một tờ giấy nói buổi trả chưa xong. Khách mất áo sẽ tìm đến hiệu.”
Anh gật đầu. Bà quay lại bàn, hỏi người học việc có thể đặt hộp ghim bên trái được không. Cậu bé dọn một khoảng trống, kê thêm miếng gỗ để xấp vải khỏi tụt. Tố thử kéo một lượt, thấy vải mắc ở cạnh bàn thì nhờ cậu đổi hướng tấm kê. Hai người làm lại đến khi thuận tay mới bắt đầu tính công. Chỉ một lúc sau, tiếng máy đã chạy khi người học việc nhấn bàn đạp. Dư đứng ngoài cửa nhìn Tố kéo xấp vải sát về phía ánh sáng, rồi trở về nhà dưỡng. Anh mang theo cuộn chỉ đỏ bà nhờ trả, tránh cầm lẫn vào túi tiền của mình.
Mộc đang đổi nước nền cho một chỗ dưỡng. Dư chờ ông khóa xong mới đưa tiền lên bàn.
“Con trả phần thử lại của bà Tố.”
Ông nhìn số tiền rồi mở sổ công. Tiền công nung hai vỏ rỗng đủ giúp anh giữ tiền ăn một tháng không phải đụng đến. Bây giờ anh xin ứng một phần. Anh vẫn còn gạo và chỗ ngủ, chỉ phải bớt số dành cho đường đi tìm Hạ.
“Ghi là ứng công của con,” anh nói. “Đừng lấy ở phí dưỡng của bà ấy.”
Mộc nhúng bút, chờ mực ngấm. “Con sẽ cần tiền đi lại.”
“Bà ấy cũng cần ngồi được ở hiệu.”
Ông viết hai dòng, đẩy sổ cho Dư ký. Không khen anh. Sự bình thản ấy khiến món tiền mất đi có vẻ thật hơn mọi lời an ủi. Anh ký xong, nhận tờ xác nhận cho Tố rồi xin xem lại bát.
“Chỉ kiểm vỏ,” Mộc nói. “Chiều nay con so với vỏ rỗng trước.”
Dư đem áo choàng treo lên móc, rửa sạch đất khô dưới móng tay. Từ bàn bên, chiếc bát chưa rõ chủ vẫn giữ nhịp đều. Anh ngồi xuống bên đế, chờ kim chỉ ổn rồi mới mở sổ. Nhịp ấy phải được giữ nguyên cho tới lúc biết phải trả kênh ở trong cho ai.