Thẻ công chuyến được người em mang tới, vẫn còn vết gấp ở giữa. Người lái đò ngồi trên ghế ngoài hiên trạm, chỉ vào dấu nhận ở góc. Ông nhớ kiện có giá lót hai tầng đã xuống đò sau lần ghé xưởng, người nhận bảo đưa tới Công quán Dưỡng Giác.
Dư chưa từng tới nơi ấy. Anh hỏi hàng có bị lấy giữa đường không, người lái đò lắc đầu, bảo mình chỉ chở một đoạn. Đoạn mình nhận có phiếu và dấu giao, còn trước đó thế nào ông không biết. Ông không thể đứng ra nói cả chuyến không ai làm sai.
Vi đặt thẻ công cạnh lời người khuân họ vừa gặp cuối buổi. Người khuân cũng nhớ đổi giá vì hàng chuyển sang nơi có dưỡng nền rẻ hơn, nhưng không nhớ từng mã ống. Hai người nói riêng, chưa xem lời nhau. Cô cho Dư thấy phần trùng về giờ bốc và số khay; phần chưa trùng để dấu hỏi, không kéo lời khai cho vừa với điều họ đang mong. Một người nhớ trời vừa tạnh, người kia nhớ mái đò vẫn còn nhỏ nước; cô không lấy hai điều ấy làm giờ chính xác. Thời điểm ghi trên thẻ công được giữ riêng với ước chừng trong lời kể. Dư chép lại theo cách ấy, bỏ con số mình đã định tự cộng vào.
“Họ chuyển đi chữa, sao không báo người nhà?” Dư hỏi.
Người lái đò không đáp được. Ông chỉ biết người thuê trả tiền chuyến và dặn tránh khúc nước xóc. Khi giao xong có người coi kho nhận, đưa tờ có số kiện. Ông xin lại phần công chưa lĩnh, không được xem món nào thuộc ai.
Vi hỏi có ghi mã buồng không. Thẻ chỉ có mã nhận hàng, không có chỗ dưỡng cuối. Dư nhìn nét mực, thấy đường mình tưởng đã tới đích lại còn một cửa nữa. Nhưng ít nhất chiếc ống không nhất thiết đã chìm ở đâu đó. Trước buổi ghép, anh còn lo mọi lời nói về chuyển kho chỉ che việc hàng mất trên sông.
Anh hỏi người lái đò có nhớ chiếc vỏ riêng nào không. Ông nhìn bản vẽ, lắc đầu. Trên đò đồ được phủ và buộc, người chở không mở từng nắp để ghi hình dáng. Dư cất bản vẽ lại, không cố kể thêm chi tiết để ông nhận ra bằng trí nhớ vừa được gợi.
Mộc ra kiểm người bệnh, hỏi từ lúc thử bước đến giờ có ngã không. Dư nhường chỗ, nghe ông nói đã đi lại tới vạch dưới tay người em. Ông vẫn chưa xuống đò. Mộc kiểm rồi dặn giữ đúng lịch trạm theo dõi; ông sẽ trở về thành theo chuyến chiều, nhà dưỡng đã có giờ nhận lại chìa. Vi gửi nhờ bản hỏi tuyến Công quán và một thư ngắn cho Hạ, không gửi lời đã tìm ra.
Dư cùng ông ra gian ngoài. Anh báo ba ca nền đã có chỗ kết thúc thật nên nhà có thể nhận đợt sau nếu đủ tiền và người, nhưng hiện chưa biết sẽ có bao nhiêu. Mộc nghe rồi nhắc anh chỗ trống không phải lý do nhận bừa. Nếu gặp kênh nghi của Hạ, việc đầu là giữ an toàn và kiểm chủ, không gọi xe mang về để dành.
“Con biết,” anh đáp, rồi thấy câu ấy quá dễ. “Con sẽ gửi giấy trước khi nhận lịch chuyển.”
Ông gật đầu, hẹn Dư ở chỗ xe đón vào cuối chiều. Người nhận giữ nhà được trả công tới khi bàn giao lại, không có khoảng trống mà ai cũng tưởng người kia đang coi. Dư ghi giờ xe đón, cất bản sao thư bàn giao cuối của ca chuyển trong tập tiền phí, để sau này cần tính chỗ không phải dựa vào trí nhớ.
Chiều ấy họ quay lại xưởng Nhiên. Cô biết Công quán dùng đế do nhiều xưởng làm, cũng có đơn của cô, nhưng không biết chiếc ống họ tìm nằm ở đâu. Cô cho xem phần sổ giao liên quan tới mã nhận đã có người cho phép đối chiếu. Vi so lại lần cuối, đủ để xin hẹn kiểm đường hàng tại quán.
Tấm bảng giới thiệu Công quán treo ở bến nhấn mạnh mức phí thấp hơn nơi nhỏ. Dư đứng đọc, nhớ người lái đò nói kiện được chuyển để bớt tiền dưỡng. Nếu thật có người tính tiền giúp chủ, đường hàng vẫn có thể sai vì bảng kê không đi cùng. Anh chưa có lý do gọi tất cả là một vụ trộm, nhưng cũng chưa có lý do để thôi hỏi vì tiền đã rẻ hơn.
Vi tới bàn trạm đặt lịch chiều hôm sau. Dư chờ ngoài, tính khoản kiểm riêng nếu cần. Công sáu vỏ đã chia gần hết; anh còn có thể làm thêm vỏ rỗng, không thể hứa một ca sửa sống chưa đủ nghề. Anh nhờ Nhiên giới thiệu việc ở xưởng quen trong thành, nhận một việc nhỏ có ngày trả rõ.
Khi Vi trở ra, cô đưa giấy hẹn có tên Đoàn Kính, chủ Công quán. Dư đọc địa chỉ, nhìn khoảng cách với trạm rồi gấp giấy. Mai họ sẽ tới một nơi thực sự có người nhận chuyến cũ. Anh vẫn không biết chiếc ống của em có ở đó, nhưng câu hỏi đã có người phải trả lời bằng sổ mình đang giữ.
Cuối chiều, hai người cùng Mộc lên chuyến xe về Lạc Triều. Người coi nhà đã nhận tin sẽ giữ tới khi ông về giao chìa thật, công tính cả quãng đường qua đêm. Dư xếp giấy hẹn vào túi, tựa lưng nghỉ; anh còn một ngày đường trước cánh cửa Công quán.