Sáng ngày thứ chín, Dư buộc xong túi đồ thì người chị họ từ đầu ngõ mang sang một gói bánh. Chị nghe anh sắp tới Bến Lau, nhìn Hạ đang xếp vở và hỏi sao chưa sửa soạn cho em.
“Nhỡ ống ở đó thì sao? Mang theo, gặp được thầy là làm luôn, đỡ mất chuyến.”
Dư chưa trả lời ngay. Anh cũng từng tính như thế lúc nằm đêm qua. Đi lại tốn tiền; nếu đã tới đúng chỗ mà phải quay về đón Hạ thì cả công Vi lẫn ngày đường đều tăng. Anh nhìn đôi dép của em dưới ghế, nghĩ có thể nhét thêm chiếc áo vào túi mình.
Hạ nhìn người chị rồi nhìn anh. Cô gõ cạnh bàn, đợi hai người quay mặt lại mới chỉ vào miệng chị. Dư viết câu vừa nói xuống tờ giấy. Cô đọc, kéo túi đồ của anh sang bên để lấy chỗ viết.
“Đã biết ở đâu chưa?”
“Chưa. Mới biết đường qua trạm.”
“Thế em theo anh vào từng kho à?”
Anh đặt bút xuống. Người chị không đọc được từ chỗ đứng, hỏi Hạ viết gì. Anh kể đúng câu hỏi, không nói thay thành em sợ đường xa. Chị kéo ghế ngồi, giải thích mình chỉ muốn đỡ cho hai anh em, nếu gặp đúng ống thì càng sớm nhận càng tốt.
Hạ đợi Dư viết xong, lật vở lớp đưa cho chị xem lịch. Sáng mai có buổi học với người mới; chiều nay cô đã hẹn tập trao đổi khi mua hàng. Cô không muốn bỏ cả tuần để đi theo một chuyến chưa có đích. Nếu tìm ra nơi có thể kiểm, anh báo về, cô sẽ thu xếp tới.
“Nhưng bệnh mình thì phải chịu khó,” người chị nói.
Dư chép được nửa câu rồi dừng. Anh đã định mang em đi để tiết kiệm một lượt người, nhưng chưa tính em sẽ phải ngồi ở đâu lúc anh sửa sáu vỏ. Có khi anh và Vi còn chưa được bước qua cửa kho. Hạ lại phải chờ ngoài sân, bỏ lớp và lịch khám, để lúc anh muốn thì vào thử.
Anh viết nốt câu của chị, đẩy giấy về phía Hạ. Cô đọc rồi đáp rất ngắn:
“Em vẫn đi khám. Mai thầy Mộc kiểm.”
Dư nhớ ngày trên sổ. Tính từ lần tách ở xưởng chuông, tới mai đã đủ ba mươi ngày. Mộc đã dặn kiểm mô neo, dù vật chưa tìm được. Anh không thể coi chuyến đi của mình là lý do để lùi buổi ấy.
“Để Hạ ở lại,” anh nói với người chị. “Em tìm chỗ trước. Còn ghép phải để thầy khám, không phải cứ thấy ống là làm được.”
Chị nhìn anh một lát, thở ra rồi mở gói bánh. Chị không hỏi nữa, chỉ dặn Hạ nếu đi chợ thì ghé đầu ngõ gọi mình. Hạ đọc lời nhắn, viết cảm ơn, lấy hai chiếc bánh đưa vào túi anh. Chiếc còn lại cô để cạnh vở, không đóng gói đi đường.
Vi tới lúc mặt sân vừa có nắng. Cô đứng ngoài cửa kiểm tờ lịch rồi hỏi Dư đã đủ giấy chưa. Anh mang theo bản sao sổ, giấy tìm tuyến và hợp đồng sửa. Phần ghi bệnh của Hạ để riêng, chỉ đưa khi cần kiểm đúng ca. Vi nhìn túi đồ của Hạ vẫn treo trong góc, không hỏi tại sao cô không đi.
Trước lúc ra cổng, Dư quay lại viết thêm: nếu tới trạm chưa có tin, anh vẫn gửi về. Hạ chỉ ngón tay vào ngày hẹn anh đã ghi từ tối qua. Anh gật đầu, không thêm một lời hứa sẽ tìm thấy trước ngày ấy.
Ở nhà dưỡng, Mộc đang thay nước nền cho một trong ba ca cũ. Dư phụ nâng bình rồi báo Hạ sẽ tới khám sáng mai, người chị họ có thể đưa qua nếu cần. Ông kéo cuốn sổ lại, cho anh xem lịch khám đã ghi, không để anh vì lo mà dặn đi dặn lại.
“Hai ca này còn phải kiểm trước khi nhận,” Mộc nói. “Ca xin chuyển đã có thư hỏi ngày. Có tin ta gửi cùng thư của Hạ.”
“Nếu thầy phải đi trạm thì sao?”
“Chưa hẹn buổi nào. Trước hết phải có người giữ ở nhà. Con tìm ra việc gì cần ta rồi báo, đừng nhận ngày hộ.”
Dư ghi câu ấy ở mép sổ tay. Anh xem ô trống đã trả phí giữ cho em; đế không có vật, mặt khay sạch và khô. Anh chỉ kiểm lại ngày hết hạn rồi đậy vải che, không đặt một chiếc vỏ dự phòng lên đó để tự thấy yên tâm.
Hai người ra khỏi thành sau giờ chợ mở. Đến ngã rẽ, Vi chọn đường xe hàng thay vì lối sát bờ sông. Đường này dài hơn một đoạn, nhưng trạm đầu còn giữ người cân chuyến cũ. Dư đeo lại túi dao cạo, bước theo cô.
Anh ngoái về phía dãy mái nhà một lần. Hạ sẽ tới lớp với chiếc bánh còn để trên bàn, mai đi kiểm rồi tiếp tục những việc đã hẹn. Anh thấy nhẹ đi đôi chút khi nghĩ tới điều ấy. Túi mình không phải mang thêm áo của em, nhưng trong đó có ngày cần báo tin. Anh đặt tay lên lớp vải dầu bọc giấy, xác nhận nó còn nằm sát ngực rồi đi tiếp.