An Hạ biết người phụ nữ không nghe rõ tiếng người bán, vì bà trả lời sai hai lần mà vẫn mỉm cười. Bà muốn một chuông gọi đặt dưới gối. Người bán cứ đưa loại treo cửa, lắc cho kêu, rồi nói lớn đến mức những khách ở sạp bên cũng quay lại.
Hạ đứng chờ mua than viết bảng. Cô nhìn môi ông ta, hiểu được chữ chuông và chữ hỏng, những phần còn lại trôi mất khi ông cúi xuống quầy. Cô lấy bảng nhỏ khỏi túi, viết: Bà cần chuông rung phải không?
Người phụ nữ đọc, nét cười bớt căng. Bà gật đầu, chỉ xuống chiếc túi vải đựng gối mỏng trên xe.
Người bán nhận ra Hạ không nghe, quay sang nói với người đi cùng bà. Hạ không nhìn được mặt ông nữa. Cô gõ cạnh bảng lên quầy, đợi ông quay lại rồi chỉ vào chữ rung.
Ông kéo một cái hộp có chân tròn từ gầm quầy lên. Có lẽ đã cất lâu, mặt hộp dính bụi. Người đi cùng bà nói điều gì đó, ông nhún vai và cười. Hạ chỉ đọc kịp mấy chữ chữa không được.
Cô nhìn bà. Người phụ nữ thu tay vào lòng, mắt dán vào hộp chuông, không còn mỉm cười. Hạ viết: Cho bà thử đã.
Người bán đặt hộp trên quầy, bấm đầu gọi. Chân hộp trượt nhẹ trên mặt gỗ. Hạ đặt bàn tay lên, thấy một chuỗi rung ngắn truyền tới các ngón. Người phụ nữ thử theo, sau đó lấy chiếc gối từ xe ra, bọc hộp vào để thử lại.
Qua lớp bông, rung yếu đi rất nhiều.
Người bán đã đưa giấy tính tiền. Hạ đẩy tờ giấy về, chỉ chiếc gối. Bà chưa nhận thấy gì. Người đi cùng định kéo gối đi vì ngại chắn khách, nhưng Hạ dời túi than của mình sang bên, chừa đủ chỗ để họ ngồi sát quầy.
Thử thêm một lần, bà vẫn lắc đầu. Hạ tự đặt gối lên cổ tay mình, thấy được lúc rung nhưng phải rất chú ý. Nếu ngủ say thì cô cũng không dám chắc. Cô vẽ một cái gối, gạch đường xuyên qua phần bông rồi chỉ vị trí bên mép, nơi cổ tay có thể chạm vào hộp.
Người bán hiểu ra, lấy bao vải buộc hộp sát mép gối. Lần này người phụ nữ giật mắt lên ngay khi ông bấm. Bà xin thử lại mà không nhìn tay ông. Hạ dựng bảng che đầu gọi. Sau ba lượt, bà nhận ra hai lượt, lỡ một lượt khi đang quay sang người nhà.
Hạ viết đúng số lần xuống bảng. Người phụ nữ đọc, tự mình hỏi thử một vị trí khác. Cuộc mua bán kéo dài, khách sau bắt đầu sốt ruột, nhưng bà không thu tay lại nữa. Đến khi chọn được chỗ đặt vừa phải, bà mới lấy tiền.
Hạ cũng trả tiền than. Người bán gói thêm một mẩu nhỏ cho cô. Bước khỏi sạp, người phụ nữ chạm nhẹ vào vai cô, làm một dấu cảm ơn. Hạ nhận ra dấu đã học hôm qua, đáp lại chậm hơn một nhịp. Bà hỏi cô học ở đâu. Hạ viết tên lớp trong sân nhà gần đó, chỉ lối rẽ và ghi giờ nghỉ nếu bà muốn ghé hỏi thêm.
Trong sân lớp, người dạy đang dùng hai miếng gỗ báo giờ vào. Hạ nhìn thấy mọi người quay về cửa nên cất bảng đi. Cô ngồi ở hàng có thể thấy rõ bàn tay người đối diện, tập dấu chờ, xong và đổi. Dấu đổi làm cô lẫn với dấu hẹn mà sáng qua đã dạy anh. Cô viết hai chữ cạnh nhau, nhờ người ngồi bên làm lại để phân biệt.
Giờ nghỉ, người phụ nữ ở chợ tìm đến. Bà muốn hỏi mua thêm đầu gọi ở đâu. Hạ dẫn bà tới bàn người dạy vì mình không biết. Bà tự kể về chiếc chuông, cười khi nói phải khâu một túi nhỏ ở góc gối. Hạ nhờ bà cho xem đường khâu khi làm xong; cô cũng muốn đặt chuông ở chỗ không vướng tóc lúc ngủ.
Hạ mở vở. Anh Dư đã ghi giờ về, bên dưới có lời hứa sẽ báo tin chưa rõ. Cô nhìn khoảng trống dành cho cuộc tìm ống. Ở xưởng chuông cũ, tiếng cao đã từng khiến cô co người lại ngay cả lúc không còn chiếc chuông nào trước mắt. Cô vẫn nhớ đủ, dù giờ tai không nhận tiếng.
Cô muốn biết chiếc ống đang ở đâu, có được giữ đúng hay không. Cô cũng muốn một ngày có thể nghe tiếng nói mà không sợ dải cao ùa tới. Hai mong muốn ấy chưa cho cô câu trả lời về việc nhận lại tất cả.
Hạ viết ở trang riêng: Tìm được rồi mới quyết. Cô ngừng bút, đọc lại, không thêm một lời hứa nào phía sau. Bìa vở đã mềm ở góc vì thường bị nắm trong lòng bàn tay. Cô vuốt cho trang giấy nằm phẳng, chừa phía dưới một khoảng đủ rộng để sau này còn viết tiếp.
Cô chưa đưa trang ấy cho anh. Cô cần tập phân biệt hai dấu tay trước khi quên. Cô kẹp mẩu than mới vào vở, đứng lên nhường ghế cho người phụ nữ. Ngoài sân, người dạy giơ bàn tay gọi lớp trở vào. Hạ nhìn thấy, gật đầu và bước theo những người khác.