Sáng ngày hai mươi chín, Dư đem một bản vẽ nhỏ ra bàn nơi Hạ đang học chữ với người giải thích ký hiệu. Anh chờ hết câu rồi mới đặt xuống. Bản vẽ là một chuông thấp của xưởng cũ, loại em từng quen phân tiếng. Sau buổi đo nền hôm trước, anh muốn có một âm quen để xem phần đáp khi dưỡng tiến được tới đâu, nghĩ như vậy em sẽ bớt mệt hơn những thứ xa lạ.
Hạ nhìn chuông rồi nhìn anh. Cô không chạm vào nét vẽ, hỏi anh định dùng nó để biết điều gì. Dư viết muốn dò xem có nhận ra không, không ghép và không làm riêng khi thiếu thầy. Anh đã cẩn thận thêm hai dòng ấy, tưởng phần còn lại chỉ là đem tới Mộc hỏi. Hạ đọc xong chỉ vào chữ “nhận ra”, kéo vở của mình tới cạnh.
Cô viết: nếu em biết trước là tiếng chuông nào, trả lời đúng có làm nó thành lần thử kín không?
Dư đọc hai lần. Người giải thích ngồi im, không gợi giúp anh một cách đáp. Ở Bến Lau, anh từng từ chối giao khứu giác cho một người kể căn bếp rất thật, vì câu chuyện quen không đủ làm căn cứ. Tới em mình, anh lại chọn điều quen trước, mong phản ứng của cô cho mình một tin dễ hiểu hơn đường ghi trên bảng.
Anh viết hai căn cứ nhận chủ đã đủ từ buổi ở Công quán; lần này chỉ muốn theo dõi. Hạ gật, rồi hỏi vì sao trong bản nháp có chỗ ghi “đúng tiếng”. Anh cúi nhìn. Chính tay anh đã kẻ ô ấy, định đánh dấu khi cô trả lời. Nếu anh đem cả lòng mong chờ ngồi trước mặt, cô sẽ phải đoán mình đang trả lời một âm hay đang làm anh vui.
“Anh sẽ bỏ,” anh viết.
Hạ hỏi bỏ ô hay bỏ lần thử. Anh nhìn bản vẽ một lúc, rồi viết bỏ đề nghị hiện tại, đem câu hỏi theo dõi tới thầy để được chỉ cách làm phù hợp. Cô khép vở, vẻ mặt bớt căng, nhưng không trở lại bài ngay. Cô muốn biết anh có kể với xưởng mình sắp nghe được tiếng chuông không.
Anh lắc đầu rồi viết chưa. Hạ đòi lần sau nếu hỏi mượn thứ gì mang tên cô thì phải báo trước. Dư đáp được. Cô nhìn người giải thích, xin chuyển nguyên câu ấy cho Mộc vào buổi hẹn, để không chỉ hai anh em nhớ. Anh thấy nóng ở mặt, nhưng không xin cô coi như chuyện nhỏ để qua.
Buổi trao đổi với Mộc diễn ra ở bàn ngoài, không đưa vật khỏi đế. Dư tự trình bản nháp, nói mình đã rút đề nghị. Ông xem, hỏi muốn biết tiến triển nghề hay muốn nghe em báo một điều làm mình an tâm. Anh nói có cả hai. Mộc đặt giấy xuống, bảo phần an tâm không thể dùng làm chuẩn đo, còn câu hỏi nghề thì có thể học cách hỏi lại.
Ông chỉ cho anh phần theo dõi nào dựa trên mô, phần nào cần người đủ nghề thiết kế, và vì sao không đem một âm đã báo trước đóng vai đáp án độc lập. Những việc Hạ có thể thử để tập sống sau này sẽ khác việc xác minh chủ. Dư ghi lại, không lén đổi tên bản nháp từ phép thử sang trò tập để giữ nguyên việc mình đã định.
Hạ ngồi nghe qua dấu, hỏi hôm nay có bị tính là bỏ một buổi dưỡng không. Mộc đáp không; nền vẫn chạy, một đề nghị không phù hợp được bỏ không làm mất công chăm đang làm. Cô chép câu ấy vào vở, rồi xin về lớp sớm. Dư xếp bản vẽ dưới tờ ghi bỏ, không vo lại ném đi.
Anh đi cùng em tới cổng. Có người bán đồ gõ hai tiếng vào thanh gỗ để gọi khách, Hạ không quay đầu. Trước kia anh thường chạm tay em ngay, chỉ về nơi phát tiếng như thể lần nào em cũng cần biết mình đã bỏ lỡ điều gì. Hôm nay cô đang nhìn bảng hàng bên đường, anh chờ cô xem xong mới làm dấu hỏi có muốn mua giấy không.
Trước khi cất vở, Hạ viết thêm một điều cho anh: có những tiếng cô nhớ mà không cần chứng minh bằng vật. Dư đọc, đáp anh biết, rồi sửa thành anh sẽ nhớ điều ấy khi hỏi lần sau. Cô bật cười vì nét gạch lộ ra giữa câu, đẩy bút về cho anh. Anh không hiểu hết cô đang nghĩ gì về chiếc chuông trong bản vẽ, nhưng có thể trả nó về đúng chỗ một đồ vật quen, khỏi bắt nó làm câu trả lời cho cả đợt dưỡng.
Cô chọn một xấp mỏng, tự hỏi giá bằng cách viết trên miếng bảng người bán đưa. Dư đứng bên, chỉ trả phần mình đã hẹn góp cho đồ học. Hạ cất giấy vào túi có quai Tố sửa, đưa tay chào rồi đi theo người giải thích tới lớp. Anh trở về với một bản thử đã bỏ, hơi xấu hổ, nhưng lần đầu thấy việc em tự bắt một lỗi của mình có thể làm con đường chữa bớt chật đi.