Giấy nhận bị nước làm dính vào nhau thành một miếng dày. Người giữ kho phụ đặt nó lên bàn, lật thử một góc rồi thôi. Đầu tờ giấy rách ở đúng chỗ đáng lẽ có số thùng. Ông nói với Vi rằng nếu ai cũng mang một bản kể chuyện mái dột đến, kho không còn cách giữ hàng cho người gửi.
Dư đứng ngoài vạch cửa. Sau vai ông, mấy đế dưỡng đặt trên kệ gỗ cao, mỗi chỗ có một thẻ. Anh có thể nhìn thấy một chiếc bát xám nhưng không biết nó thuộc chuyến nào. Càng cố nhìn, anh càng thấy tất cả đều giống cái bát để lại ở chỗ Mộc.
Vi không xin vào ngay. Cô hỏi có thể dùng bàn ngoài sân để đối chiếu sổ không. Người giữ kho nhìn dấu kiểm tuyến trên giấy của cô, kéo một chiếc bàn thấp ra dưới mái hiên.
“Chỉ giấy. Chưa mở kệ.”
“Được,” Vi đáp.
Sổ tải trọng được đem tới trong một hộp bọc vải dầu. Dư dịch ghế tránh chỗ nền còn ướt, đặt bản kê họ chép hôm qua lên bàn. Hai trang đầu không khớp. Một chuyến đến sớm hơn, chuyến khác có cân nặng gần bằng nhưng chỉ chở đế rỗng.
Người giữ kho gõ móng tay xuống số ấy. “Đây chứ gì?”
Vi lắc đầu. “Số kiện giống, nhưng không có nước nền. Chuyến đang tìm phải nặng hơn.”
Dư nhìn cô lần từ hàng số này sang hàng số khác. Ở xưởng, anh quen cân đất bằng bàn tay, nhìn một hòn là biết đủ làm bát hay bình. Bảng cân ở đây có cả gỗ, dây, đệm và nước. Một chênh lệch anh tưởng đáng kể có thể chỉ là hai tấm áo dầu chưa ráo.
Vi xin xem ghi chú cân lại sau mưa. Người giữ kho mở trang gấp vào giữa. Có một chuyến đã cân hai lần, lần sau nhẹ hơn. Dư định nói họ bớt hàng, nhưng Vi hỏi áo dầu được tính cùng hay tách riêng. Ông đáp lần đầu cân cả lớp phủ. Cô gạch phép tính, viết lại từ đầu.
Họ vẫn thiếu người xác nhận những món đã dỡ lên bàn khô. Vi nhờ người kho gọi người khuân chuyến đó. Trong lúc đợi, Dư trải tờ giấy bị ướt lên tấm ván cho thoáng, không bóc tiếp. Anh nhìn hàng mực nhòe, hiểu vì sao người giữ kho không thể dựa vào nó mà giao đồ.
Người khuân tới sau một lượt xe. Ông vắt tấm đệm lên một bên vai, xin rửa tay trước khi sờ sổ. Vi hỏi ông kể đường đi từ lúc xuống hàng. Ông nói cửa đông, bàn sát bức vách không thủng, rồi chuyển lên kệ bên trong. Đến đây Dư lấy bản vẽ của người giao chuyến ra.
Hai người nhớ cái bàn cùng một chỗ. Nhưng người khuân không nhớ mặt bát; ông chỉ nhớ số gói phải nâng bằng hai tay và việc có một thùng nắp cháy được đưa đi tiếp. Vi ghi những phần không nhớ cạnh phần đã khớp. Cô không nhắc trước số mà mình muốn tìm.
“Tôi đã nói rồi,” người khuân bảo. “Nếu phải lật cả kho thì tối nay không trả được xe.”
Vi xoay cuốn sổ cho ông xem. “Chúng tôi xin kiểm đúng dãy nhận buổi ấy. Ông xác nhận hàng dỡ từ bàn này lên dãy nào, rồi có thể về.”
Ông chỉ dãy thứ hai, đếm từ cửa đông. Người giữ kho đi vào xem thẻ, trở ra đối chiếu ngày nhận. Dư nín thở trong suốt lúc ông so dấu. Sau cùng, ông lấy chìa khóa nhỏ dưới thắt lưng ra nhưng vẫn chưa mở ngay.
“Nếu có hai món gần nhau thì không được mang cả dãy đi.”
“Chúng tôi kiểm tuyến trước,” Vi nói. “Chỉ món nào có căn cứ nghi là bát đang tìm mới lập giấy mang về thử. Kho giữ bản giao.”
Ông yêu cầu có người đứng cạnh kệ, không ai được chạm khóa nền. Dư đồng ý, đặt túi đồ nghề ở ngoài. Anh chỉ mang theo bản vẽ vỏ và một que gỗ để trỏ, tuyệt nhiên không cần dao cạo men vào lúc này. Vi dừng lại đọc phần phạm vi kiểm cho người giữ kho nghe. Một dòng có chữ toàn bộ, cô tự gạch bỏ, viết rõ dãy thứ hai và ngày nhận đang tìm. Ông đọc lại, lấy dấu đóng vào chỗ sửa. Dư ký sau cùng. Buổi sáng đã mất gần hết, nhưng anh không còn phải nài ai tin mình chỉ bằng câu nói cần cứu một người thợ may.
Khi cánh cửa mở, mùi gỗ ẩm ùa ra. Không thấy nước trên chân kệ; nền dưỡng vẫn được trông coi, dấu giờ nạp có người ghi. Dư nhẹ đi một chút rồi mới nhìn dãy thứ hai. Có nhiều thứ chưa biết, nhưng ít nhất những vật ở đây không bị bỏ mặc giữa một gian kho dột.
Vi đứng ở cửa đọc số, người giữ kho đáp từ trong. Dư theo mỗi tiếng đọc mà dò tấm thẻ trước kệ. Đến chiếc thứ ba, anh thấy vành bát xám có vệt vàng nhạt sát chân. Ngay cạnh nó còn một bát cùng cỡ. Anh siết que trỏ trong tay, chờ Vi đọc xong hai mã, rồi mới xin bước tới gần hơn.