Người giới thiệu dựng bàn cạnh chợ, trên bàn có một quyển sổ nhãn cũ và mấy tờ giấy in chữ tìm hộ. Ông nhận ra Vi trước, định gấp sổ lại. Cô đặt bản chép biên nhận xuống, hỏi ông đã căn cứ vào đâu để hẹn người phụ nữ tới trạm.
“Tên gần giống. Bà ấy tự bảo đúng mùi.”
“Ông đã cho bà ấy ngửi vật chưa?”
Ông lắc đầu. Dư đứng bên, thấy quyển sổ mở ở trang có cột khứu giác. Phần tên bị nhòe được người giới thiệu chép lại bằng nét mới, địa chỉ đổi sang chỗ ông nghe khách kể. Một khả năng dò hỏi đã được nói thành món chắc có thể nhận.
Vi xin người phụ nữ đứng bán nước bên cạnh chứng kiến việc đối chiếu giấy thu phí, không kể ca bệnh của người đã tới thử. Người giới thiệu phản đối, nói mình chỉ lấy công chỉ đường, chẳng cam kết chữa. Cô chỉ câu hẹn nhận vật trên tờ ông ký; câu ấy nằm ngay dưới khoản tiền, không phải lời khách tự thêm.
Dư muốn mang cả bàn tới người xét trạm. Nhưng lúc họ nói chuyện, hai người khác đã tới hỏi vì nghe tin tìm được vật cũ. Một người cầm tiền ăn trưa trong tay, chỉ chờ ông gật đầu là nộp. Vi xoay tờ hẹn về phía họ, nói những nhãn này chưa đủ xác minh chủ, đừng trả tiền cho một lời hứa nhận chắc.
Người giới thiệu cáu, bảo cô phá việc làm ăn. Dư đáp nếu chỉ giới thiệu ứng viên thì phải ghi đúng như thế. Ông hỏi liệu họ có trả được công những người mất ngày đi hỏi không, rồi kéo ngăn bàn cho thấy tiền còn ít. Phần đã thu hôm qua, ông dùng trả chỗ bán và tiền giấy.
Vi cất bản chứng nhận thất bại của phép thử, không đưa ra giữa chợ. Cô yêu cầu ông ghi lời xác nhận đã dùng sổ nhãn cũ và chưa kiểm độc lập. Nếu không chịu, họ sẽ nộp chứng từ đã có. Sau một hồi ông đồng ý viết, đòi thêm rằng không ai được coi mọi người ông từng giúp là nhận sai.
“Chúng tôi cũng phải kiểm từng món,” cô nói. “Ông không được lấy vài lần tìm đúng để hứa thay lần này.”
Chiều ấy người phụ nữ tới nhận tiền hoàn. Người giới thiệu chỉ trả được một phần, đặt lên mặt bàn trước người trạm làm chứng. Phần thiếu phải đợi, còn bà cần trả người xe ngay để về chỗ làm. Vi lấy từ túi mình khoản chênh, ghi thành tiền ứng đòi lại người đã thu phí; không ghi thành tiền mua thêm buổi thử.
Dư kéo cô ra một bước, nói công chuyến mình vừa trả cũng không nhiều. Cô biết. Khoản ứng làm số dành cho chặng tiếp giảm thật, có thể phải chờ anh nghiệm thu mẻ sau mới đi được. Nhưng giữ người phụ nữ ở trạm để đợi giải quyết giấy sẽ khiến bà tiếp tục mất công vì lỗi họ đã nhìn rõ.
“Tôi muốn nộp ngay,” anh nói.
“Sẽ nộp. Trước hết để bà ấy về.”
Người phụ nữ đếm tiền, đặt phần vừa đủ đi đường vào một túi riêng, phần còn lại cất sâu trong áo. Bà ký đã nhận đúng số, không ký đã được tìm lại khứu giác. Vi đưa bản hẹn hỏi tiếp ở cơ sở gốc, nhắc nếu có tin sẽ báo qua địa chỉ kín bà cho. Bà chào hai người, lần này không mang cái muôi theo.
Tới cuối buổi, hồ sơ người giới thiệu được nộp tại trạm để xét việc thu phí. Dư không đứng chờ nghe một hình phạt chưa có. Anh tới xưởng, nhận lại ba vỏ rỗng đã làm sạch, bắt đầu phần mài còn nợ. Nếu không hoàn tất sáu vỏ, tiền tủ ký gửi cùng công đường sẽ dồn tới hạn trước họ.
Nhiên nhìn lịch công, sắp thêm một khoảng lò vào sáng sớm. Cô không cho anh bỏ bước nguội thử để lấy tiền nhanh. Dư đổi vị trí đèn, làm tới khi đầu ngón mỏi, nghỉ rồi mới nối phần còn lại. Vi ngồi ở bàn ngoài chép hồ sơ, tự mang nước vào, không nói sẽ làm giấy suốt đêm để bù tiền đã ứng.
Thư nhà tới theo chuyến chiều muộn. Mộc báo đã kiểm Tố đúng một tuần sau ghép, bà còn phải tập chậm nhưng chưa có dấu buộc can thiệp. Một ca nền đã nhận lại, có lịch tái khám; ca thứ hai hẹn kiểm nhận vào ngày mười sáu. Cơ sở nhận ca chuyển đề nghị ngày mười tám, người nhà đã đồng ý đi cùng. Ông có thể tới trạm sau khi bàn giao xong, nếu trạm xác nhận ca cần ông và lịch đi không bỏ nhà dưỡng trống người.
Dư đọc xong, ghi thư hỏi người hành nghề ở trạm về một vật thăng bằng trong ba món ký gửi. Ông thợ lái đò vừa được tìm qua địa chỉ cũ, còn chờ căn cứ kín. Anh chỉ xin lịch kiểm, không hứa đã có thể ghép, rồi quay lại chiếc vỏ trên bàn để hoàn tất công của tối hôm ấy.