Tố đến cuối buổi chiều, sau khi đã trả đủ số vải lót cho hiệu. Bà nhìn thẻ giấy mới buộc cạnh bát, hỏi có phải nhà dưỡng tìm thấy chủ khác rồi không. Dư lắc đầu, mời bà vào gian thử.
Mộc đã dọn bàn, chỉ để lại vòng thử và ba hộp gỗ nhỏ. Ông đưa Dư một phong giấy còn dấu dán. Tên Phùng Tố được viết trên mép gấp, bên dưới là ngày tách kênh và chữ của người lập phiếu.
“Con kiểm dấu rồi ra cửa chờ.”
Dư đưa phong giấy về phía đèn. Dấu còn liền, mép không có vệt bóc. Anh ghi vào sổ, đặt lại trước mặt Mộc. Tố theo dõi động tác ấy, nét mặt mỗi lúc một khó chịu.
“Cậu ấy biết tay tôi cả tuần, giờ lại không được xem?”
“Cậu ấy đang tìm bát. Những điều ghi ở đây không nên đi cùng lời hỏi ngoài kho.”
Mộc kéo một chiếc ghế cho bà. Dư lùi tới cửa, nơi anh vẫn thấy được đồng hồ và nghe tiếng hai người. Anh không nhìn vào lòng hộp. Mỗi lần thử, ông sẽ đánh số trên tờ kết quả; anh chỉ ghi nhịp đế và giờ, không ghi thứ kích thích nằm trong tay thầy.
Tố đặt tay phải lên miếng lót. Lần này bà tự kéo tay áo cao hẳn, tránh vướng vòng. Một dải chỉ báo được nối vào vùng mô neo, dải còn lại đặt gần bát đang cách ly. Mộc kiểm nền trước, cho hai dải đứng yên rồi mở hộp đầu.
“Nếu khó chịu thì nói ngay.”
“Tôi có cảm thấy gì đâu mà nói.”
“Chỗ còn cảm thấy vẫn có thể khó chịu.”
Bà im lặng, gật đầu. Dư bắt đầu đếm. Kim dưới đế bát nhích theo nhịp giữ, không có chuyển động riêng phù hợp với dấu thầy vừa đánh trên bảng thử. Phía tay Tố có một đáp nhỏ. Mộc chờ nó trở về nền mới cho lần thứ hai.
Dư không thích sự yên tĩnh ấy. Ngoài kho, một vết bút nhỏ đã cho họ đường hỏi tiếp; ở đây mỗi khoảng chờ chỉ thêm một lần không khớp. Anh nhìn giờ trên mặt đồng hồ, tự nhắc mình không đếm nhanh vì nóng ruột. Đến khoảng nghỉ thứ hai, Tố xin uống nước. Mộc dừng hẳn phép thử, chờ bà đặt cốc xuống và tự kê tay trở lại. Dư chép cả khoảng dừng, không dồn nó vào thời gian thử. Bà nhìn anh ghi, hỏi có phải lại sai một lần nữa không. Anh chỉ nói đang ghi giờ bà nghỉ. Mặt bà giãn ra đôi chút; bà xoay chiếc cốc cho chỗ mẻ quay xa tay mình rồi bảo thầy có thể tiếp tục.
Lần thứ ba kết thúc, vẫn không khớp. Khi Mộc che các hộp lại, Tố đã ngả người ra sau, mắt nhắm nhưng chưa ngủ. Một bên vai bà thấp hơn bên kia do ngồi may cả ngày.
“Có phải tay tôi hỏng rồi nên không nhận?” bà hỏi.
Dư bước lên một bước rồi dừng. Câu trả lời thuộc về người đã thử. Mộc tháo vòng, kiểm vùng da trước khi nói.
“Neo của bà vẫn đáp. Bát này không khớp cả ba dấu đã ghi từ lúc tách. Tôi chưa có lý do nói tay bà mất khả năng nhận.”
Tố mở mắt, nhìn bàn tay. “Người giao nói có khi tôi không nhớ đúng.”
“Bà không cần nhớ đáp án để làm phép thử này.”
Ông trải tờ kết quả cho bà xem. Dư chỉ thấy các ô đánh số, hai hàng dấu dưới đó khác nhau rõ rệt. Mộc giải thích chậm, dùng đầu bút chỉ từng hàng. Bà hỏi lại một lần về chỗ neo còn sống, rồi đặt ngón tay xuống chữ không khớp.
“Vậy đừng ai bảo tôi lẫn nữa.”
Dư nhận lấy tờ giấy sau khi bà xem xong. Anh ghi đúng yêu cầu ấy vào phần thông báo cho người giao, dùng những lời vừa nghe chứ không biến chúng thành lời cáo buộc. Bát có nhãn sai vẫn cần được giữ. Không biết chủ không có nghĩa nó trở thành đồ để thử đủ cách cho đến khi ai đó nhận.
Mộc niêm lại phiếu gốc và cất riêng. Dư hỏi có cần giữ bản sao ba dấu để đem tới kho không. Ông lắc đầu, đưa anh bản chỉ ghi kết luận và tình trạng neo.
Tố đứng dậy, chợt quay lại chỉ ba chiếc hộp. “Nếu bát khác đến, tôi phải làm lại cả thế này?”
“Phải kiểm bát với neo của bà, rồi kiểm kín,” Mộc đáp. “Không nhất thiết lâu bằng hôm nay, nhưng không bỏ được.”
Bà tính nhẩm số buổi mất công, nhăn mặt. Dư nói sẽ nhờ người kho báo trước để bà không phải ngồi chờ vô ích. Anh chưa dám nói tìm được bát vào lúc nào; ít ra lịch thử có thể đừng lấy thêm của bà một ngày làm việc.
Khi bà ra sân, trời đã nhạt nắng. Dư mang chiếc ghế lại chỗ cũ, thấy một sợi chỉ từ tay áo bà vướng trên miếng lót. Anh nhặt bỏ, lau bàn rồi trở về đế cách ly. Mực trên tờ kết quả chưa khô hết. Lần đầu tiên từ lúc nhận bát, họ có đủ căn cứ để gạch một khả năng khỏi đường tìm, thay vì chỉ thêm dấu hỏi.