Tố bắt Dư ngồi cách bàn may một cánh tay. “Cậu nhìn gần quá tôi thấy vướng,” bà nói, rồi tự kéo ghế anh lùi ra.
Giá đỡ vẫn buộc ở đúng chỗ, nút dây quay ngoài đầu gối. Người học việc kiểm mặt bàn không còn ghim lẫn trong vải. Sáng nay Tố đã tập với kim cùn trước lúc tới hiệu, bàn tay mỏi sau vài lượt nên bà không chọn chiếc áo khó từng bỏ. Bà lấy một mảnh lót rộng, vạch đường ngắn bằng phấn rồi nhờ người chị ngồi cạnh.
“Lệch thì nói. Đừng cầm tay tôi.”
Người chị gật đầu. Dư đặt hai bàn tay mình lên đùi, bỗng nhận ra đó là điều khó làm nhất trong buổi sáng: nhìn người khác chậm chạp thử mà không sửa hộ. Tố đưa kim qua vải, dừng lại ở một mũi kéo hơi căng. Bà nhìn đầu ngón, đổi lực, kéo tiếp.
Đường may chưa đều. Ở nửa sau, khoảng cách rộng hơn nửa đầu, có một chỗ vải nhăn. Người chị chỉ bằng đầu đũa, bà tháo đúng hai mũi rồi làm lại. Không ai vỗ tay khi bà hoàn thành, vì bà còn đưa lên gần cửa để xem mặt sau.
“Được rồi,” bà nói. “Để tôi khâu nốt mép.”
Dư đợi tới lúc bà đặt kim vào hộp mới đứng lên. Anh tưởng bà sẽ nói về bàn tay, nhưng bà mở túi lấy một gói tiền có giấy bọc. Đó là phần công đã hứa khi thuê anh gia cố vỏ và phụ ca. Bà đếm ngay trên bàn, không cho anh lùi lại bảo chờ hẳn bình phục.
“Chữa còn theo dõi thì theo dõi,” bà nói. “Công cậu làm, tôi trả.”
Anh nhận, ghi vào sổ công mình mang theo. Phần anh đã bỏ để thử lại không được lén cộng vào khoản bà trả. Anh chỉ ghi còn nợ tiền bánh của Vi và khoản đi kho dưới tên mình, để lúc tính không lấy nhầm từ số dành trả thầy.
Tố nhìn anh chia tiền ra hai túi, hỏi định đi đâu. Anh nói muốn mua bản sao sổ chuyển kho, bản có đủ các dòng trước sau để tìm đường ống của Hạ. Bà nhắc hôm trước anh nói cần để dành tiền thêm chỗ dưỡng.
“Chưa có người trực, cũng chưa đủ để mở thêm,” anh đáp. “Tôi phải tìm chỗ giữ ống trước.”
Bà không hỏi bệnh em anh. Chỉ bảo nếu quay lại hiệu thì nhớ gõ ở cạnh bàn trước, vì nhiều lúc bà mải nhìn kim, không nhận ra người đứng sau. Anh nhận lời, để chiếc thước lại cho bà dùng và đi tới bàn kiểm tuyến.
Vi đang so bản nhận từ cơ sở cũ của người khách kín tên. Chiếc bát đầu đã qua thử kín, hai căn cứ khớp; nơi ấy nhận trách nhiệm theo dõi, chưa ghi đã ghép. Bản gửi lại không nêu bệnh ra ngoài. Chiếc bát ứng viên còn lại đã vào kho phụ, có giờ nạp và lịch báo, phí giữ tiếp ghi ở biên nhận riêng. Dư chép các kết quả vào sổ, đặt dấu trả lời cạnh hai ngày hẹn mình từng ghi.
Sau đó anh mới hỏi mua bản sao sổ chuyến.
Vi đưa bảng phí chép. Mua cả cuốn sẽ hết quá nhiều tiền, còn một dòng rời lại không đủ kiểm. Cô chỉ phạm vi từ chuyến trước đêm mưa tới chuyến sau lúc đổi thùng. Phần tên chủ không liên quan được che, giữ mã, trọng lượng, trạm và dấu người nhận. Dư chọn đoạn ấy, đếm tiền công vừa nhận lên bàn.
Anh ngồi chờ người chép trong sân. Qua cửa kho có tiếng vỏ gốm chạm nhau, tiếng xe kẹt ở rãnh mà mấy hôm trước họ vừa đẩy qua. Đến khi nhận giấy, Dư rà từng hàng với sổ gốc dưới tay Vi. Có một con số bị chép ngược, anh nhận ra vì tổng cân không trùng hàng cuối. Người chép xin sửa, đóng dấu nhỏ cạnh nét mực mới. Dư đợi mực khô rồi so lại từ hàng trước, không để việc bắt được một lỗi khiến mình bỏ qua phần còn lại. Đầu gối anh mỏi vì ngồi thấp, nhưng bản sao mua bằng công của Tố cần dùng được khi không còn cuốn gốc trước mặt. Anh không còn chỉ nhìn tên Hạ, vì tên có thể không theo thùng đã đổi.
Một ký hiệu nằm ở cột ghép kiện khiến anh dừng lại.
Anh mở tờ ghi đường ống của em, vuốt phẳng chỗ gấp. Ngày chuyển trên đó trùng với một hàng trong bản sao; bên cạnh hàng ấy có cùng kiểu móc kép, dẫn sang số kiện lớn hơn. Dư chỉ cho Vi xem cả hai, sợ mình lại nhìn màu men mà đoán chủ.
“Có phải cùng kiện không?”
Cô so dấu, kiểm ngày rồi lật trang tiếp. “Có đường gộp sang chuyến này. Cần theo trạm mới biết trong đó có món nào.”
“Đi đâu?”
Đầu bút Vi dừng ở hai chữ Bến Lau. Dư cúi nhìn, không thấy ngay chiếc ống, không thấy em đã nghe trở lại. Anh chỉ thấy một nơi chưa kiểm, nằm trên đường hàng mà họ vừa tìm được từ chiếc bát sai. Anh gấp hai tờ riêng, giữ chỗ ký hiệu mở ra ngoài để khỏi mất dấu khi đem về báo với Hạ.