Người phụ nữ tới trước giờ hẹn, mang theo một cái muôi đã cháy cán. Bà bọc nó trong khăn, vừa mở ra đã hỏi có phải vật khứu giác ở ngăn dưới từng giữ gần bếp không. Bà nhớ lúc tách mình ngửi mùi hành phi, nói đúng đến cả cái chảo lõm ở tay cầm.
Dư chưa thấy mặt người giới thiệu bà. Ông ta chỉ gửi một mảnh giấy báo đã tìm được người có thể khớp nhãn, thu phí hỏi đường rồi hẹn bà tới. Vi giữ mảnh giấy, mời bà ngồi, hỏi cơ sở từng tách và giấy còn mang được theo.
Bà đưa bản lưu của mình. Người hành nghề ở trạm kiểm dấu rồi nhờ cơ sở gốc xác nhận bằng chuyến thư đã hẹn; tới buổi thử, bản trả lời được gửi niêm riêng. Căn cứ kín đã có từ lần tách, không được chọn lại vì hôm nay có một chiếc ống mang mùi bếp. Người phụ nữ nghe giải thích, nhìn cái muôi trong tay, gật đầu nhưng vẫn kể thêm chỗ chân tường từng ám khói.
“Nhà tôi ai cũng biết,” bà nói. “Hỏi hàng xóm cũng được.”
Dư hiểu bà muốn đưa thêm thứ để họ tin. Anh từng mở giấy của Hạ cho người khác xem với cùng ý nghĩ ấy. Anh không gạt cái muôi đi; chỉ dọn một góc sạch để bà đặt, rồi nói câu chuyện giúp tìm đầu mối, còn hôm nay phải xem hai phần thử.
Người hành nghề đưa vật ra khỏi tủ theo đúng lượt nạp, đặt trên đế riêng. Dư chỉ giúp che cửa và ghi giờ. Anh kê chén nước ở bên tay không làm thử, dời cái ghế để bà khỏi phải với qua đế khi đứng lên. Bà khách đồng ý thử, đưa tay cho kiểm mô neo, chọn Vi làm người chứng. Người phụ trách đọc phần niêm kín một mình, không nói đáp án trước mặt khách hoặc Dư. Trong lúc đợi, bà miết nếp khăn quấn muôi cho phẳng, rồi lại gấp vào vì không biết đặt hai bàn tay ở đâu.
Lượt đầu có một dao động nhỏ. Người phụ nữ ngẩng phắt lên, hỏi đã đúng chưa. Dư cúi sát sổ, thấy kim chưa đứng ở vùng khớp. Anh không dám nói mình cũng mong như bà. Người hành nghề cho nghỉ rồi đổi lượt kiểm theo phiếu; dấu trả lời lại lệch.
Tới lúc bà nói ngửi thấy hành, phần thử vừa đưa ra không phải thứ ấy. Vi giữ nguyên lời báo vào sổ. Người hành nghề kiểm lại cả dụng cụ và nền, xác nhận chưa đủ hai căn cứ để nhận vật. Không ai cho nối về cơ thể.
Người phụ nữ nắm lấy cán muôi, hỏi có thể thử thêm lần nữa không. Bà đã trả tiền cho người tìm hộ; người ấy nói biết chuyện căn bếp nên chắc đúng. Hôm nay bà xin nghỉ ở chỗ làm, người nhà cũng đang đợi tin.
“Tôi không biết giải thích với họ thế nào,” bà nói. “Họ bảo chỉ cần tới nhận.”
Dư nhìn giấy giờ nạp. Vật còn ổn để giữ, người hành nghề cũng chưa định đóng cửa ngay. Anh có thể xin thử thêm chỉ để người phụ nữ đỡ khóc, nhưng thêm một lượt không làm câu trả lời vừa rồi thành khớp. Mỗi lần bà tới bằng hy vọng sai, phí đi đường và ngày nghỉ lại tăng.
Anh kéo ghế gần hơn, giữ giọng đủ cho bà nghe.
“Hôm nay chưa nhận được món này. Tôi sẽ ghi rõ đã kiểm, bà không phải về nói mình từ chối.”
“Cậu cũng nghĩ tôi nhớ nhầm?”
“Bà nhớ bếp nhà bà. Nhưng chúng tôi chưa tìm được kênh của bà.”
Vi lấy giấy mới, nhờ người phụ trách ghi kết quả cùng nơi có thể hỏi tiếp về vật của bà. Bản ấy không nêu chi tiết kích thích kín, cũng không biến chuyện người phụ nữ kể thành lời khai gian. Bà vẫn khóc khi nhận, nhưng ngồi uống hết chén nước rồi mới đứng lên. Dư đưa lại cái muôi đã bọc khăn, không giữ nó làm chứng cớ cho một món không khớp.
Ngoài sân, người dẫn xe hỏi có đợi bà lâu hơn không. Vi xin bà cho xem giấy trả phí tìm hộ. Bà lấy tờ biên nhận nhàu từ túi áo, trên đó có đúng một tên viết tắt và địa điểm ở gần dãy chợ. Cô hỏi có được giữ bản chép để kiểm người giới thiệu không; bà đồng ý, yêu cầu đừng kể chuyện bếp cho người mua hàng ở chỗ mình làm.
Dư nhìn theo bà đi qua cổng. Cái muôi được ôm sát ngực như thứ duy nhất hôm nay bà còn tin được. Anh trở vào bàn, ghi nhãn ba món vẫn chưa thay đổi; chỉ một ứng viên đã bị loại bằng kiểm, không có món nào được phép bớt phí bằng cách trả cho người nhận sai.
Vi để bản biên nhận tìm hộ cạnh phần sổ cũ bị thiếu. Cô đã hỏi người trạm nhận ra lối viết và biết chỗ người giới thiệu thường đứng. Sáng mai họ sẽ tới đó, mang câu hỏi về khoản tiền đã thu, thay vì mang chiếc ống ra giữa chợ để gọi người tới nhận.