Hạ đặt chiếc bánh thứ hai vào bát của Dư rồi xoay cuốn vở về phía anh. Một bên trang giấy có ba hàng giờ đã viết, bên kia để trống. Anh nhìn mãi vào chỗ trống ấy, tưởng em hỏi giờ về từ nhà dưỡng.
“Chiều anh chưa biết,” anh nói, chậm và nhìn thẳng vào em.
Hạ chờ anh viết xuống. Anh quên; từ ngày em không còn nghe được, anh vẫn thường nói hết một câu rồi mới nhớ lấy bút. Cô đẩy bút tới cạnh bát bánh.
Anh viết: Chiều sang chỗ giao hàng.
Hạ đọc xong, gạch dưới hai chữ giao hàng. Cô chỉ vào ngực mình, nhướng mày. Dư hiểu câu hỏi ấy, nhưng thay vì đáp ngay anh lại hỏi lớp ký hiệu bắt đầu lúc nào.
Cô kéo vở về, viết một dòng ngắn hơn: Tìm ống của em hay bát của người khác?
“Bát của bà Tố.”
Anh viết lại câu vừa nói. Hạ gật đầu, đặt vở giữa hai bát. Cô không tỏ vẻ thất vọng như anh đã sợ. Điều đó lại làm anh khó chịu hơn. Anh đã định kể rằng đường men khác mẻ có thể dẫn tới chỗ từng chuyển ống của cô, dù thực ra anh chưa có căn cứ nào nối chúng với nhau.
Trong căn phòng trọ, ánh sáng sớm lọt qua mành tre. Hạ ngồi phía quay lưng vào cửa nên Dư gõ hai ngón lên bàn trước khi đứng dậy. Cô nhìn theo. Anh treo chiếc áo ẩm ra ngoài, trở lại ngồi xuống, vẫn chưa biết nói sao về lần đi tìm hụt hôm trước.
Hạ giở lùi một trang. Ở đó có tên hai điểm giao mà anh từng chép cho em. Bên cạnh điểm thứ hai, cô đã vẽ một dấu hỏi nhỏ. Anh cầm bút, sửa dấu hỏi thành một gạch ngang rồi viết: Không có ống. Họ chỉ nhận thùng vỏ rỗng.
“Anh biết từ hôm qua,” anh nói.
Hạ đọc môi anh không chắc. Anh viết thêm đúng câu ấy.
Cô nhìn anh một lúc, rồi viết: Sao không nói?
Anh muốn bảo vì em đang ngủ, vì anh phải quay lại giữ nhịp, vì hôm qua có một ca bị dừng. Những điều đó đều có thật, nhưng không phải lý do anh giấu tờ giấy ở dưới đáy túi.
Anh viết: Anh muốn tìm được chỗ khác rồi mới nói.
Hạ quay đầu nhìn chiếc áo đang nhỏ nước ngoài cửa. Dư chờ. Từ lúc cô tách thính giác đến nay, hai anh em có quá nhiều cuộc nói chuyện bị rút gọn vì mệt, vì vội, vì anh nghĩ mình hiểu điều em muốn hỏi.
Cô lấy bút: Em cần biết để xếp việc. Sáng học, chiều tập với nhóm. Nếu phải kiểm neo thì báo trước.
Anh nhìn ba hàng giờ bên trang đầu. Chúng không phải lịch của anh. Hạ đã ghi giờ học ký hiệu, giờ gặp nhóm tập và giờ đi chợ chung. Khoảng trống được dành cho cuộc tìm ống, vì cô chưa biết cần theo anh ngày nào.
“Em cứ đi học,” anh nói, rồi viết. “Anh tìm được địa điểm sẽ báo. Có tin gì chưa rõ anh cũng viết cho em.”
Hạ đưa tay ra. Anh mất một lúc mới nhớ đó là dấu đã học tối qua: hẹn. Anh làm lại vụng về, ngón cái đặt sai bên. Cô sửa bằng cách làm chậm trước mặt anh, không nắm lấy tay anh để bẻ.
Dư tập hai lượt. Đến lượt thứ ba, Hạ chỉ vào cuốn vở rồi làm dấu hẹn lần nữa. Anh hiểu ra cô đang nối dấu ấy với lịch, bèn chép giờ mình có thể trở về. Cô sửa giờ tập buổi chiều muộn hơn một chút, viết rằng cần thời gian đi bộ từ lớp về. Những việc nhỏ ấy trước đây chỉ gọi qua cửa là xong, giờ cả hai phải nhìn nhau và chờ bút. Dư kéo bát bánh xa cuốn vở để dầu không dây lên trang giấy. Bánh đã nguội, nhưng anh ăn thấy dễ nuốt hơn ban nãy. Anh lấy bản vẽ đường men, định đưa cô xem; giữa chừng lại dừng. Hạ hỏi bằng mắt, anh nói đây là việc của bà Tố rồi cất nó riêng khỏi những giấy tờ tìm ống.
Trước lúc anh ra cửa, cô kéo vạt áo anh, chỉ vào một mảnh quảng cáo cũ kẹp dưới chân bàn. Trên đó có hình người được chữa đang cười, bên dưới in mấy hàng chữ lớn. Hạ lật mặt giấy trắng lên, viết thêm vào vở.
Đừng kể chuyện em cho khách để xin công. Đừng cho ai dùng tên em.
Anh đọc hai lần. Có lần ở xưởng gốm, anh đã kể em gái gặp nạn để người chủ cho ứng tiền. Hạ không nói đến lần ấy, nhưng anh nhớ rõ mình đã kể cả chuyện cô làm ở xưởng chuông.
Anh ngồi xuống lại, viết vào vở: Nếu cần nói với người giữ sổ để tìm?
Cô viết: Hỏi em phần nào cần. Tìm đồ không cần kể hết đời em.
Dư ghi bên dưới rằng anh đồng ý. Hạ đóng vở, bỏ vào túi cùng miếng bảng tập ký hiệu. Cô ra trước, ngoái lại chờ anh khóa cửa. Xuống hết bậc thềm, hai người rẽ hai phía; lần này anh biết buổi chiều của em sẽ dùng vào việc gì, và em biết sáng mai không có chiếc ống nào đợi ở điểm giao thứ hai.