Nhiên có tên người nhận chuyến hàng sau xưởng. Dư thấy dòng ấy lúc cô tìm sổ công để tính mẻ sửa thứ hai cho anh, nhưng chưa đọc hết thì trang giấy đã được úp xuống. Anh hỏi có thể cho mình chép cả trang không.
“Không,” cô đáp. “Trong đó có khách không liên quan.”
“Tôi chỉ tìm em.”
“Tôi biết cậu tìm ai. Người khác không vì thế mà muốn cậu biết họ gửi thứ gì.”
Dư nhìn gáy sổ dày cộp. Đường hàng họ cần nằm đâu đó giữa những tên ấy. Nếu có thể đem cả danh sách ra so, anh nghĩ mình sẽ tiết kiệm được vài ngày. Nợ công đã bớt, tiền giữ chỗ Hạ vẫn chạy; mỗi buổi ngồi chờ một câu trả lời là một buổi anh phải nhận thêm việc sửa.
Anh hỏi Nhiên có thể che tên, giữ địa chỉ và loại kênh không. Cô mở lại một dòng, dùng hai mảnh giấy chặn hai đầu, chỉ để lộ ba chữ ghi điểm giao. Ở con phố ngắn ấy chỉ có một nhà; để địa chỉ và loại kênh vẫn có thể nhận ra người bệnh.
Vi kéo ghế tới. Dư chờ cô xin xem bằng giấy kiểm tuyến, nhưng cô hỏi Nhiên cần ai cho phép để cung cấp phần đường vận chuyển. Nhiên ghi ba người nhận kiện và trạm nối; hai người có thể đến ký ngay tại xưởng, người thứ ba đang làm ở bến ngoài. Cô đồng ý gửi lời hỏi, chỉ trao phần được phép chép.
“Đợi đủ ba người thì tới bao giờ?” Dư hỏi.
“Nếu cần giữ nguyên trang thì tôi không đưa,” Nhiên nói. “Nếu cần tìm chuyến, có thể đối chiếu mã giao và cân nhận trước. Người ta không phải kể bệnh cho cậu mới chứng minh đã nhận một thùng.”
Dư đứng dậy đi ra sân. Mép sân có đống giá lót bỏ, một chiếc bị nứt giữa đúng kiểu họ đang tìm. Anh nhặt hai nửa lên định ghép, rồi nhận ra đất đã ngấm dầu, không thể đưa lại vào bộ giữ vật. Anh để chúng xuống chỗ cũ. Anh ngồi nhìn chúng, muốn được làm một việc chỉ cần hai bàn tay, không phải xin ai cho xem giấy. Anh đã từng giữ tên người báo đổi thùng để người ấy chịu nói thật. Bây giờ tới tên người lạ, anh lại muốn gom hết vì nghĩ mình không có thời gian.
Nhiên không theo ra. Trong xưởng, Vi tiếp tục hỏi giờ chuyến và người cân. Dư nghe tiếng bút chạm thành chén mực, đứng lên trở vào. Anh xin xem phần phiếu không có tên, để bắt đầu trước trong lúc chờ. Nhiên đưa cho anh một chiếc ghế, chỉ chỗ mép giấy còn trống để anh chép mà không đè lên sổ công.
Phiếu đầu ghi số giá đã trả, không ghi số vật bên trong. Dư nhận ra nét hằn ở góc vì sáng qua đã sửa một giá cùng loại. Anh lấy chiếc rỗng ra, đo phần chốt. Nếu giá được đổi cả bộ, cân nặng sẽ khác nhiều hơn con số trạm ghi; như vậy có một phần hàng rời riêng, không đi theo thùng cuối.
Nhiên cho anh kiểm bằng chiếc giá lưu, còn Vi ghi rõ đó mới là khả năng cần đối chiếu. Họ tìm được phiếu trả vật liệu để xác nhận số chốt. Tới gần chiều, một trong ba người nhận tới. Đó là người chuyển thuê có bàn tay băng vải, chỉ đồng ý cho chép giờ và mã bến, không đồng ý nói tên người thuê trước mặt khách trong xưởng.
Vi dọn bàn phía trong. Dư chờ ngoài, lần này không đứng sát rèm nghe. Khi được gọi vào, anh có một đường chuyển được ký xác nhận: vài món phải chờ ở tủ ký gửi vì bảng kê phụ chưa tới. Chưa ai nói trong đó có ống Hạ.
“Nếu tìm được vật, chúng tôi liên lạc với ai?” anh hỏi.
Người chuyển chỉ người giữ tủ, bảo tiền giữ tính từ ngày đưa vào; ông không có quyền hứa giảm. Nhiên chép địa chỉ lên giấy mới, tách khỏi tên các khách khác. Cô cho Dư mang đi, giữ bản ký lại trong sổ.
Trong lúc Vi kiểm nốt mã, người đưa thư từ trạm mang tới một phong bì dày. Mộc báo hai ca nền đã qua lượt kiểm nhận đầu, nếu kết quả giữ ổn sẽ hẹn trả trong những ngày tới. Cơ sở gần nhà ca thứ ba đã nhận chuyển theo lịch; cần chờ xác nhận người đi cùng. Ông cũng ghi sẽ kiểm Tố sau một tuần kể từ ngày ghép, rồi mới nhận lịch ra trạm nếu cần.
Dư đọc hai lần, gạch chân ngày của Tố trong sổ tay. Những chỗ ở nhà chưa trống thêm, nhưng đã có việc cụ thể đang tiến. Anh không phải chạy về quyết hộ từng ca.
Trước khi rời xưởng, anh trả chiếc thước đã mượn, nói với Nhiên mình đã hỏi quá phần cần. Cô nhận thước rồi chỉ vào ba vỏ rỗng chờ trên giá, hỏi sáng mai anh có làm kịp không. Anh đáp được, miễn lò còn chỗ. Cô đánh dấu giờ nung cho anh; tờ sổ tên khách vẫn úp xuống, còn địa chỉ tủ ký gửi đã nằm trong túi anh.