Người ở bàn nhận hàng bảo thùng cũ vẫn còn sau kho. Dư đi theo ông ta qua hai dãy xe, thấy cái nắp gỗ quen có một góc bị cháy sém. Trên nắp buộc dây và đóng dấu sáp. Anh vừa đưa tay tới thì một thanh thước gỗ chặn ngang miệng thùng.
“Anh có giấy mở kiện?”
Người hỏi là một phụ nữ mặc áo tay hẹp, cổ tay dính mực. Cô giữ thước trong tay phải, tay trái đặt cuốn sổ lên nóc thùng. Dư rút tay lại, đưa phiếu giao bát.
“Có vật gửi nhầm tới nhà dưỡng. Tôi cần xem ngăn đệm.”
“Phiếu này cho anh nhận một bát. Thùng còn hàng của ba nơi khác.”
Người giữ bàn nhận vội giới thiệu cô là Tạ Vi, phụ trách kiểm tuyến. Ông ta nói Dư đến từ chỗ thầy Mộc, không phải khách lạ. Vi vẫn không nhấc cây thước đi.
“Tôi biết nhà dưỡng,” cô đáp. “Dấu niêm này tôi chịu. Mai thiếu hàng, không ai hỏi vì sao anh ấy sốt ruột.”
Dư nhìn khoảng dây thừng chắn trước mặt. Hôm qua, khi thấy đáp neo lệch, anh đã tưởng chỉ cần tới đây mở thùng, tìm một ngăn đặt sai là xong. Bây giờ sau cái nắp còn tên của những người anh chưa gặp.
“Tôi không lấy hàng. Chỉ nhìn.”
“Mở ra rồi anh nhìn bằng mắt, tôi vẫn phải giải thích một dấu đã đứt.”
Ở ngoài sân, người kéo xe giục vì lối ra bị hai người chặn. Vi chuyển sổ sang bàn gần cửa. Dư theo cô, đặt phiếu giao lên tấm ván khô. Anh mang cả bản vẽ men, nhưng cô không cúi xem ngay.
“Ai xác nhận sai?”
“Thầy Mộc giữ kết quả thử. Tôi ghi cùng ông.”
“Tờ gốc đâu?”
“Ở nhà dưỡng.”
Vi đẩy phiếu giao trở lại. “Mang bản có chữ người thử tới. Tôi sẽ xin kiểm đếm, có người kho chứng kiến. Không cần mở lén.”
Dư hỏi bao giờ cô hết ca. Vi chỉ vạch giờ trên sổ, nói còn một lượt xe phải kiểm. Anh chạy về qua ngõ bán vải, gặp Tố ở cửa hiệu nhưng chỉ kịp báo đang kiểm đường hàng. Mộc đọc bản chép kết quả, ký tên rồi giữ lại một bản. Lúc anh trở lại, mồ hôi đã thấm qua lưng áo, chiếc xe cuối vẫn còn trên bàn cân.
Vi đọc từng dòng, dừng ở phần mô neo đáp nhưng bát lệch. Cô hỏi bát có bị mở từ khi nhận không. Anh nói chưa, phần gia cố chỉ ở mặt ngoài. Cô yêu cầu ghi đúng điều đó bên dưới, rồi mời người giữ kho và người nhận thùng tới.
Họ đặt chiếc thùng lên bàn kiểm. Vi cho từng người xem dấu, ghi tình trạng dây, sau cùng mới dùng dao cắt. Cô nhờ người giữ kho đếm những gói còn trong hai ô chưa giao, đọc từng số để người nhận dò lại. Dư chờ một gói được cân hai lần vì sợi dây đệm mắc dưới đĩa. Anh định giục rồi thôi; chính mình đến đây vì một thứ đã được giao cho xong. Vi cũng không làm lâu hơn cần thiết. Đếm đủ, cô đặt các gói sang khay có tên người chứng, để lộ lòng thùng cho anh xem. Dư đứng bên cạnh, hai bàn tay để trên mép bàn theo yêu cầu của cô. Anh thấy khó chịu vì bị trông chừng, nhưng khi nắp được nhấc hẳn lên, anh lập tức quên cảm giác ấy.
Ngăn đệm không giống hình ở phiếu đóng hàng.
Phiếu vẽ bốn ô rộng bằng nhau. Trong thùng có hai thanh chặn đã dời vị trí; một đầu gỗ mới, màu sáng hơn đầu còn lại. Người giữ kho lật nắp nhìn phía trong, bảo thùng ấy do trạm gửi lên, họ chỉ nhận rồi chia chuyến.
Dư chỉ góc cháy. “Tôi nhớ đúng góc này.”
Vi hỏi: “Anh nhớ thùng hay nhớ cái nắp?”
Anh im một lúc. Buổi nhận hôm ấy, anh chỉ nhìn nắp kê ngoài cửa. Thân thùng đã bị những người khuân hàng chắn mất. Anh sửa câu mình vừa nói, Vi ghi lại chứ không bỏ đi.
Người nhận hàng tìm trong sổ. Dư đứng đợi trong tiếng xe lăn qua sân, mùi sáp niêm nóng lẫn với mùi gỗ ẩm. Cuối cùng Vi đặt hai bản kê cạnh nhau. Dấu trạm giống nhau, số ngăn không khớp; bên một bản có nét bút nhỏ ghi đổi thùng.
“Ai viết?” Dư hỏi.
“Người giao chuyến. Phải mời ông ấy đến.”
“Vậy đã đổi ở trạm?”
“Có ghi việc đổi ở đó. Tôi chưa biết đổi cả hàng hay chỉ đổi vỏ thùng.”
Dư nhìn lại hai thanh chặn. Cái bát của Tố có thể đã nằm ở một ô khác, hoặc chưa từng ở trong chiếc thùng này. Anh xin mang bản kê đi. Vi chỉ cho chép phần liên quan, che những tên người nhận khác bằng tấm giấy trắng.
Trước khi đóng nắp, cô mời anh xem đủ hai ô trống. Không có vật bị bỏ lại. Dư ký vào chỗ người chứng, thấy ngay bên trên là tên Tạ Vi. Cô gấp bản kết quả thử của anh vào sổ tuyến, đổi lấy cho anh một tờ hẹn kiểm tiếp. Lần này anh ra khỏi kho với một đoạn đường có thể hỏi, dù chưa mang được chiếc bát nào về.