Sáng ngày hai mươi hai, trạm trong thành đưa Dư một phong bì từ Bến Lau. Anh mở ở bàn ngoài, đọc bản bàn giao hai món ký gửi trước khi xem thư Nhiên. Mã vật, người nhận và giờ nạp đều có; dòng quỹ cầu nối ghi đủ ba mươi ngày đầu, hẹn báo kiểm lại vào ngày bốn mươi của lịch họ đang theo.
Hai món không còn ở tủ cũ. Nhiên đã nhận giữ một đêm tại xưởng theo giấy của trạm, có người hành nghề chịu nền, rồi cùng họ bàn giao về điểm dưỡng Bến Lau ngày hôm trước. Chúng được ghi ngoài những lô hàng khác, mỗi món vẫn chưa xác định chủ. Bên dưới bản nhận có chữ của người giữ tủ và phần phí lưu giữ đã được thanh toán hết.
Dư mang tờ gửi tiền tới bàn. Trước khi rời Bến Lau, anh đã để lại phần công sáu vỏ dành thanh toán nợ, giao trạm chỉ trả theo quyết toán có người giữ tủ ký. Những khoản đã trả trước được gạch đối chiếu, chỉ còn phần cuối. Hôm nay bản thu và tiền thừa được gửi về cùng giấy giao. Người trạm đọc số, cho anh so chữ ký đầu bên kia. Anh chờ đóng dấu nhận lại phần thừa rồi mới cất bản của mình, không lấy việc từng đưa tiền cho một người trên đường thành kết luận chủ tủ đã nhận đủ.
Vi xem cùng anh, yêu cầu ghi rõ người giữ hai món từ giờ bàn giao chịu cả việc tìm chủ, không chỉ cho đặt đế nhờ. Quỹ trạm trả nền ba mươi ngày đầu; nếu qua hạn chưa khép, nơi giữ phải báo và tính nguồn tiếp, không quay lại coi Dư tự sở hữu vì từng bảo lãnh. Không có khoản nào chờ từ một người chưa bị xác định có nợ.
“Anh vẫn muốn đem về nhà Mộc à?” cô hỏi.
Dư nhìn chỗ ký nhận ở Bến Lau. Trước khi rời trạm anh đã xin phương án này, nhưng nhìn hai món thực sự đi khỏi phần mình trông, anh vẫn thấy bồn chồn. Ở nhà có chỗ trống; nếu đem về, ít nhất mỗi sáng anh có thể tự nhìn. Rồi anh nhớ mình chưa được phép vận hành ca, chưa có tiền nền lâu dài và người ở Bến Lau mới đang giữ đường liên hệ tới những địa chỉ cũ.
“Để ở nơi đã nhận,” anh đáp. “Tôi cần biết họ sẽ báo thế nào.”
Vi chỉ phần hẹn. Ngày bốn mươi trạm gửi tình hình xác minh và lịch nhận nếu đã tìm được; trước đó có biến thì phải báo ngay. Dư chép ngày vào sổ công, bên cạnh lịch giữ chỗ Hạ, không để giấy gấp thay mình nhớ.
Thư Nhiên viết ngắn hơn biên nhận. Cô tính công đêm giữ riêng, ghi vật tư đã dùng, phần trạm nhận trả; tiền Dư gửi chỉ thanh toán nợ tủ theo phần anh đã ký, không phải mua công cô trọn đời. Anh đọc tới đó bật cười, nhớ cách cô kéo vỏ ra khỏi tay mình khi mới vào xưởng. Vi hỏi cười gì, anh đưa phần công cho cô xem, giữ nguyên trang không có tên bệnh nhân khác.
Có một chỗ thời gian chưa khớp giữa bản đưa ra khỏi tủ và bản vào xưởng. Vi chưa ký đã đối chiếu xong. Cô tìm trang giải thích Nhiên kẹp ở cuối tập: người giữ tủ đã ghi giờ bắt đầu nạp; bản giao xưởng ghi sau khi nạp đủ. Hạn đi đường phải tính từ lần nạp, cả hai mốc được chép riêng, không sửa cho chúng giống nhau. Dư đọc lại số ở đầu trang rồi mới hiểu vì sao Nhiên gửi cả giấy nền thay vì chỉ báo hai vật đã tới nơi. Anh đặt trang ấy sát biên nhận, buộc lại cùng dây để người mở sau cũng thấy.
Dư nhìn quãng đường ngắn từ tủ tới xưởng, nhớ món nứt họ vừa giữ lại. Ngắn không có nghĩa bỏ giờ cũng được. Anh thêm lời nhắn xin giữ bản gốc để lúc cần kiểm không phải nhờ người ta nhớ lại, gửi cùng phần xác nhận thanh toán.
Tới cuối buổi, Dư đã so xong giấy thu hộ phía Bến Lau. Người giữ tủ đã nhận đủ phần nợ Dư chịu, không còn giữ ba vật làm cớ thu tiếp. Một vật thăng bằng đã về người lái đò dưới lịch theo dõi; hai vật ở Bến Lau có đế, có tiền cầu nối, có người tìm. Anh đặt ba dấu hẹn khác nhau, không gạch cùng một nét như cả ba đã chữa xong.
Vi cất bản giao vào tập riêng. Tập tìm Hạ vẫn mở trên bàn, chưa có kết quả thử chủ, vẫn chờ giờ xem vỏ. Dư thấy mình đã dùng gần hết công chuyến để khép một món nợ không mang tên em, nhưng không còn phải nhờ Nhiên giữ hai ống qua đêm rồi tự lo phí về sau.
Anh ra ngoài ăn bát cháo, lần đầu trong mấy hôm không đứng vừa ăn vừa đợi người mở tủ. Chiều còn việc ở Công quán. Trước khi đi, anh nhìn lại ngày bốn mươi trong sổ, đặt tờ báo hẹn dưới dây giữ trang để tới lúc ấy còn nhớ hỏi về hai người mình vẫn chưa biết tên.