Người giữ sổ Bến Lau không tìm thấy tên An Hạ. Ông lật từ chuyến trước đêm mưa tới chuyến sau, chỉ cho Dư những hàng ghi cân nặng và số thùng. Có tên người nộp kiện lớn, không có tên từng người gửi vật bên trong.
“Nếu theo chữ trên giấy cậu mang thì đi kho bờ đông,” ông nói. “Ở đó nhận thùng cùng ngày.”
Dư nhìn ra lối ven nước. Kho ấy chỉ cách trạm một quãng ngắn; hai người còn có thể tới trước giờ đóng cửa buổi trưa. Anh cất bút, nhưng Vi chưa gấp sổ.
“Cho tôi xem cân khi thùng rời trạm.”
Người giữ sổ kéo quyển thứ hai từ dưới ghế. Vi so hai hàng, lấy một tờ giấy trắng kê ngang. Thùng tới nặng hơn thùng rời; số giảm có thể là nước mưa và lớp chèn bỏ đi. Tuy nhiên chuyến bờ đông mang đủ số khay của chuyến khác. Nếu theo tên thùng, họ sẽ đuổi theo chiếc vỏ gỗ đã được dùng lại.
Dư ngồi xuống trở lại. Anh thử cộng những số cô chỉ, nhận ra mình vừa bỏ qua cột khay vì nó không ghi tên em. Vi không nói anh nóng ruột. Cô hỏi người cân cũ đang ở đâu; người giữ sổ đáp hôm nay ông ấy đi kiểm bến ngoài, quá trưa mới về.
“Chúng ta có thể kiểm kho trước,” Dư đề nghị.
“Đi được. Nhưng đường cân chưa khớp. Đến đó rồi quay về sẽ mất cả buổi chiều.”
Anh nhìn tờ hợp đồng sửa. Vỏ đầu tiên đang chờ ở điểm nhận ngay sau trạm, công chỉ trả khi nghiệm thu. Anh xin Vi giữ chỗ trong sổ, mình mang dụng cụ qua làm việc trong lúc đợi người cân. Cô đồng ý, nhắc anh chưa được lấy bất kỳ vật nào về chỉ vì tìm thấy dấu men quen.
Điểm sửa là gian nhà mái thấp có hai bệ gốm rỗng đặt sát cửa. Người phụ trách mang chiếc vỏ cần tráng lại ra, chỉ vết rạn dưới chân. Dư rửa tay, kiểm mặt trong đã sạch, kê vỏ lên vòng vải rồi mới thử ứng suất bằng que gõ. Tiếng ngân hụt ở một phía; anh đánh dấu phần phải hạ men, báo nếu chỉ phủ bên ngoài thì lớp mới sẽ bong khi nóng.
Người phụ trách ngồi nhìn anh làm. Ban đầu ông giục nhanh để còn đóng cửa, về sau thấy phần men cũ được cạo ra thành mảnh mỏng, ông mang cho anh bát nước. Dư uống nửa bát, giữ phần còn lại để thấm tay, không nhúng chiếc vỏ vừa làm sạch vào đó.
Khi Vi tới gọi, anh đã xong phần chuẩn bị nhưng chưa nung. Người phụ trách ký nhận công đoạn, hẹn kiểm sau mẻ chiều. Anh lau dao, bọc riêng mảnh men làm mẫu rồi trở lại trạm.
Người cân cũ vừa ăn xong. Ông không nhớ tên Hạ, cũng không nhớ một chiếc ống giữa hàng chục khay. Nghe Vi hỏi phần giảm cân, ông đứng dậy tìm chiếc thước gỗ treo sau cửa.
“Không phải chỉ bỏ đệm. Hôm ấy tách một giá lót nặng. Cái này.”
Ông đặt thước ngang hai khe khay, cho thấy loại giá kê hai tầng. Bản cân nhận ghi cả giá; bản cân đi dùng một giá nhẹ hơn. Vi nhờ ông cân chiếc cùng loại còn trong trạm. Dư đứng bên ghi số, đợi cân ngừng dao động mới chấm bút.
Phần chênh khớp gần hết, còn một lượng nhỏ. Dư hỏi ông có từng cân riêng lớp chèn không. Ông lắc đầu, bảo đừng lấy trí nhớ mình thế cho con số còn thiếu. Người cân nhớ thêm thùng đã ghé xưởng sửa vì có chân vỏ nứt. Lớp lót phải để lại thay, người xưởng ký trên phiếu phụ. Ông không nhớ họ trả bằng vật liệu gì, nhưng biết giấy ấy nằm trong tập công sửa chứ không phải sổ chuyển.
Họ mất thêm gần nửa buổi để tìm tập đúng. Dư đứng nhìn vệt nắng dời qua bậc cửa, nghe người ngoài gọi chuyến bờ đông sắp chạy. Anh không đi. Lần trước vì muốn lấy món giống nhất, anh suýt bỏ lại một ứng viên; hôm nay anh chờ tờ giấy giải thích phần cân thừa.
Phiếu phụ nằm giữa hai hóa đơn mua dây. Góc giấy có vết dầu tròn, chữ ký dưới dòng nhận giá sửa vẫn đọc được: Kha Nhiên. Địa chỉ xưởng ở đầu đường gò, cách trạm một chặng xe.
“Cô ấy sửa vỏ?” Dư hỏi.
“Làm cả đế,” người cân đáp. “Nhưng cậu hỏi cô ấy xem chuyến đó nhận phần gì. Tôi chỉ cân.”
Vi chép địa chỉ, nhờ ông xác nhận chính tay mình lập phiếu cân. Cô để lại bản sao, không lấy mất chứng từ trạm còn cần. Dư nhìn hai đường trên tờ giấy: đường ngắn tới kho bờ đông bị cô gạch một nét, đường qua xưởng vừa có thêm giờ nhận.
Chiều xuống, anh quay lại điểm sửa kiểm vỏ ra lò. Mẻ đầu chưa được trả tiền vì còn phải nguội đủ mới nghiệm. Anh chịu thêm một đêm tiền trọ, chia với Vi phần bánh Hạ gói. Đường đi chưa ngắn lại, nhưng lần này anh có thể viết về rằng mình đang theo món hàng, không theo cái tên in trên thùng gỗ.