Kha Nhiên để Dư nói hết rồi đẩy bản vẽ chiếc bát về phía anh.
“Tôi không nhận lỗi hộ một xưởng chưa biết tên.”
Trong xưởng, những đế gốm đặt úp thành hàng trên giá. Một chiếc vỏ đang nguội sau lò, chân kê được chặn bằng ba miếng đất nung khác màu. Dư thấy cách kê ấy quen tay nghề, bèn chỉ đường men vàng trên bản vẽ. Anh nói chiếc bát đã qua sửa, lại đi cùng chuyến có kiện họ đang tìm.
“Người dùng màu ấy nhiều hơn cậu nghĩ,” Nhiên đáp. “Phiếu chỉ ghi tôi nhận giá lót. Cậu muốn hỏi giá hay buộc tôi nhận chiếc bát?”
Anh rút tay khỏi giấy. Lúc bước vào anh đã nghĩ gặp người sửa là có thể hỏi thẳng kênh đi đâu. Bây giờ trước mặt chỉ có bản vẽ mình mang theo và một thợ đang bị hỏi về món không còn ở đây.
Vi đặt phiếu phụ cạnh bản cân. Cô giải thích họ đang dựng lại chuyến chuyển, chưa có kết luận ai làm mất hàng. Nhiên đọc cả hai tờ, đứng lên lấy sổ công. Cô tìm được ngày nhận giá nhưng dòng vật liệu viết tắt, một mình nó không chỉ ra chiếc vỏ nào đã được gia cố.
Dư mở gói mẫu. Trên đường đi, anh mang mảnh men thừa của vỏ rỗng vừa sửa, cùng các mẫu đối chiếu thầy Mộc cho dùng khi học. Anh không có mảnh nào lấy từ vật đang dưỡng. Phần dấu của chiếc bát đầu chỉ có bản chép màu và đường gờ, vì bát đã bàn giao cơ sở cũ.
“Chị xem được kiểu nối này không?” anh hỏi. “Nếu tôi trộn mẫu, không nói chỗ lấy, chị có nhận ra mẻ mình dùng không?”
Nhiên nhìn túi mẫu rồi nhìn tay anh. “Nhận men trên mẫu thôi. Không nhận chủ của vật cho cậu.”
“Tôi hiểu.”
Cô bảo Vi đứng chọn, Dư quay lưng lại. Vi bỏ các miếng vào ba chén sạch, đặt dưới ánh sáng cửa sổ; một chén có mảnh lưu của xưởng do Nhiên lấy từ ngăn đã ghi ngày. Cô thay vị trí rồi gọi hai người quay lại. Dư không chạm vào chúng, chỉ giữ bản vẽ để lát nữa đối chiếu.
Nhiên xem mặt vỡ trước mặt tráng. Cô chọn mảnh có đường hạt li ti sát chân, đem thấm ướt một cạnh, sau đó so với bình men cũ. Cô nói mẻ ấy bị lắng nhanh, khi nối với nền đã nung sẽ để một sống nhỏ bên dưới. Không phải lỗi khiến vỏ vỡ ngay, nhưng người sửa phải mài bớt để nó khỏi tì vào đế.
Dư cúi nhìn bản vẽ. Đường sống nằm đúng chỗ anh đã chép từ chiếc bát đầu. Anh muốn hỏi ngay có phải cùng mẻ không, nhưng Nhiên đã lấy một chiếc vỏ rỗng từ kệ xuống.
“Cậu vẽ đường này sâu bao nhiêu?”
Anh chỉ bằng đầu que, không dám dùng con số chưa đo. Cô thử đặt vỏ rỗng vào giá lót, cho anh nhìn phần chân khuất. Dư phải nghiêng cả người mới thấy được. Trước đó anh chỉ chép đường men lộ ra, bỏ sót một đoạn dưới chân. Anh khoanh khoảng ấy trên giấy, ghi chưa xem, để lúc mang bản vẽ đi người khác không tưởng nét đứt là một chỗ đã bị cạo mất. Nếu giá đã đổi giữa chuyến, nét cọ bên ngoài có thể do giá mới. Dấu dưới sống men mới giúp phân biệt lớp nối của xưởng với vết trầy sau đó.
Vi ghi hai điều thành hai dòng riêng. Nhiên tìm trong sổ thêm một lúc rồi lấy ra tờ nghiệm thu có hình giá. Ba kiện nhỏ đặt chung trên một giá tới xưởng hôm ấy; người chuyển chờ sửa chân và đổi lớp chèn. Xưởng không mở nắp từng ống. Cô nhận mình đã dùng mẻ men ấy, cho phép họ chép phần vật liệu và giờ giao.
“Vậy chiếc bát từng qua đây,” Dư nói.
“Kiểu nối của tôi phù hợp bản vẽ cậu mang. Muốn chốt chính chiếc ấy thì phải xem vật thật. Còn thứ bên trong, tôi chưa từng kiểm.”
Anh gạch chữ định viết trong sổ, thay bằng câu ngắn hơn. Nhiên nhìn rồi thôi, không bắt anh đọc lời cam đoan nào. Cô trở lại chiếc vỏ đang nguội, luồn miếng kê ra để chân không bị ép khi co.
Đúng lúc đó, người điểm sửa mang tới biên nhận nghiệm thu vỏ đầu của Dư. Men đã nguội, thử kín đạt, họ trả phần công đã hẹn. Anh đếm ra khoản đến hạn trả Vi, ghi trước mặt cô rồi mới cất phần còn lại. Nhiên nghe tiếng tiền, hỏi anh biết hạ lớp men cũ đến đâu.
“Vỏ rỗng thì tôi làm được. Vật đang dưỡng phải có người trông.”
Cô đưa anh một chiếc đế gãy cạnh, bảo nếu muốn chờ tìm sổ tiếp thì có thể xem chỗ này. Anh kê đế trên vải, lần đầu được ngồi ở bàn thợ thay vì đứng ngoài cửa hỏi hàng. Đến trưa, khi kéo được phần lịch giao còn thiếu ra khỏi tập giấy dày, Nhiên đặt nó bên tay anh. Đường hàng tiếp tục qua xưởng, nhưng cô chưa đưa cho họ một cái tên bệnh nhân nào.