Tủ ký gửi đứng trong một gian sát sân cân, chân kê cao khỏi nền ẩm. Người giữ tủ nhận ra phiếu đường hàng nhưng không mở ngay. Ông đặt lên bàn tờ phí đã cộng tới hôm ấy, hỏi ai chịu trả trước khi nhìn vật.
Dư tính số ngày từ khi kiện tới, thấy nhiều hơn quãng họ vừa tìm. Tiền lưu tăng từng ngày, trong khi tên chủ vẫn chưa rõ. Anh hỏi người gửi không quay lại thì ông sẽ làm gì. Người giữ tủ đáp đã báo trạm, chưa được phép thanh lý; nguồn dưỡng vẫn phải nạp và người trực vẫn cần công.
“Tôi không giữ một chiếc hòm rỗng,” ông nói. “Cậu mở ra rồi bỏ đi, tôi vẫn phải ở đây.”
Vi kiểm sổ lần nạp trước. Mỗi lần đều có giờ và người ký, phần phí không bao gồm quyền bán thứ bên trong. Cô xin mở để đối chiếu mã, còn việc nhận trách nhiệm phải lập riêng. Người giữ tủ gọi người hành nghề đang coi gian bên, chờ bà tới mới lấy chìa.
Ngăn dưới có ba vật đặt trên ba đế. Hai ống nhỏ và một bầu thấp, mỗi món mang nhãn cũ bằng giấy đã ngả màu. Dư nhìn hết, không có dấu nào anh đủ căn cứ gọi là của Hạ. Anh thấy thất vọng rất nhanh, rồi xấu hổ vì điều đầu tiên mình nghĩ là lại một chỗ tìm hụt.
Người hành nghề kiểm nền, ghi ba món vẫn giữ được nhịp nhưng một vỏ cần thay đệm chân. Bà không cho Dư nhấc lên xem đáy. Anh ngồi xuống ngang tầm tủ, soi mặt ngoài bằng gương nhỏ, nhận ra có thể kê lại đệm mà chưa cần vận chuyển. Vi so số gửi: cả ba thuộc một đường tách khỏi chuyến gộp, không nằm trong cùng bảng chuyển đang dẫn tới ống Hạ.
“Tên trên đây có tìm được không?” anh hỏi.
Người giữ tủ đưa tờ trả lời từ trạm. Một địa chỉ không còn người ở, một tên bị chép thiếu, món cuối chỉ có tên người gửi thay. Ông đã hỏi lại hai lần, chưa có bản kê kín để tự xác minh người nào tới nhận. Ông không biết câu chuyện của những chủ kênh ấy, cũng không bán một món nào để lấy tiền giữ hai món kia.
Dư nghĩ tới ba ô trống của Mộc. Một ô đã dành cho Hạ, hai ô còn lại không đủ cho ba món; mang cả về cũng chưa có ai trả phí. Anh hỏi ở đây có thể giữ thêm bao lâu nếu trả trước một khoảng ngắn.
Vi kéo anh ra cạnh cửa. Cô nhắc tiền sửa còn phải trả công chuyến và tiền ăn, hiện chưa hoàn tất cả sáu vỏ. Anh không thể ký vô hạn. Dư lấy sổ chia phần công đã lĩnh, phần dự kiến chỉ để bút chì. Anh đề nghị mình bảo lãnh tới ngày đã định, đủ để hỏi trạm nhận tiếp; quá hạn phải có nơi nhận hoặc thỏa thuận mới, không coi ba kênh là đồ của anh.
Người giữ tủ muốn thu cả nợ cũ. Dư không có đủ. Vi so phần phí, tìm được một ngày đã thu qua người gửi nhưng chưa trừ, yêu cầu sửa trước. Phần còn lại họ lập giấy ghi người chịu nợ, không lấy chữ ký bảo lãnh thành xác nhận mua ba vật.
“Nếu không tìm được chủ thì sao?” ông hỏi.
“Tôi sẽ xin nơi có thể tiếp nhận, báo lại trước hạn,” Dư đáp. “Tôi không hứa tìm được trong mấy ngày.”
Người hành nghề đứng chờ nghe xong mới ký giờ nạp tiếp. Bà yêu cầu giữ nguyên ba đế, vì trong tủ không có chỗ thử riêng cho khách tới nhận. Muốn kiểm chủ phải hẹn buổi, đem phiếu kín hợp lệ và có người phụ trách. Dư xin được làm lại miếng đệm chân bên ngoài theo hướng dẫn của bà; bà xem chỗ đệm anh chỉ rồi nhận, ghi công riêng để trừ một phần phí.
Họ làm ngay tại sân. Dư gọt lớp vải lót bị cứng, thay bằng miếng sạch đúng độ dày. Bà nâng đế, anh đưa đệm, không chạm vào đầu nối. Khi đặt lại xong, kim nền giữ được vị trí cũ. Anh rửa tay ở vò nước sau nhà, thấy móng còn một vệt bụi men vàng.
Vi mang hai bản giấy ra cho anh đọc. Cô khoanh ngày cuối, bảo anh ghi cả vào lịch công, đừng chỉ để trên biên nhận rồi quên dưới đáy túi. Phí đã trả chỉ phủ một đoạn, nợ cũ còn phải dùng công sửa tới đây để thanh toán. Anh ký, giữ bản có giờ nạp và hẹn kiểm, cất riêng với giấy tìm Hạ.
Trước khi đóng tủ, Dư nhìn ba nhãn một lần nữa. Anh đã tới đây vì một người mình biết rất rõ, giờ phải gửi đi ba câu hỏi về những người chưa gặp. Anh xin người giữ tủ chép nguyên phần địa chỉ bị trả về, để ngày mai tới trạm hỏi bằng chính những dấu còn đọc được ấy. Cánh tủ khép lại, chìa vẫn ở thắt lưng người trông, còn anh ra sân tính xem tối nay phải làm thêm phần nào của mẻ sửa đang chờ.