Nếu chỉ nhìn men, Dư sẽ chọn chiếc bên trái.
Nó có đường chân bát vàng nhạt, đúng vị trí anh đã vẽ từ chiếc bát ở nhà dưỡng. Miệng bát tròn đều, vết mài cạnh đế cũng theo lối thợ quen làm nhanh. Chiếc bên phải xám đậm, chân cao hơn một chút; dưới ánh sáng trong kho, nó có vẻ chưa từng được tráng sửa.
Anh đã đưa que trỏ tới chiếc bên trái trước khi nhớ ra điều thầy Mộc hỏi hôm trước: biết được vỏ, chưa biết thứ đang được giữ trong đó.
“Cái này?” người giữ kho hỏi.
Dư hạ que. “Xin cho xem thẻ cả hai.”
Vi quay mặt khỏi sổ, chờ. Anh nói rõ mình vừa định chọn theo màu men. Người giữ kho nhăn mặt, kéo thẻ chiếc bên phải ra dưới ánh sáng. Cả hai cùng được nhận sau đêm mưa, cùng nằm trong nhóm hàng chưa đủ giấy trả. Thẻ ghi khác giờ nạp, không ghi được tên chủ đã xác minh.
“Nó có thể mang vỏ thay,” Dư nói.
“Cái nào?”
“Tôi chưa biết.”
Người giữ kho nhìn hai chiếc bát rồi nhìn ra sân, nơi người khuân đang chờ lấy lại đệm vai. Ông không giấu vẻ mất kiên nhẫn. Dư cũng muốn xong, nhưng nếu mang nhầm về lần nữa, người phải bỏ bàn may để thử vẫn là Tố.
Vi rà sổ đường hàng. Hai mã kề nhau được dỡ từ cùng bàn khô mà nhân chứng đã chỉ. Những vật còn lại của dãy nhận qua cửa khác hoặc đến trước mưa một ngày. Cô đánh dấu hai ứng viên, không gạch tên món nào thành bát của Tố.
“Phải mang cả hai,” cô nói.
“Tiền lưu tính đến hôm lấy,” người giữ kho đáp. “Hai món, hai ngày. Còn tiền đệm mới.”
Dư mở túi tiền. Phần anh ứng hôm trước đã dành để thử lại, số còn lại không đủ trả thoải mái những khoản nhỏ cứ lần lượt sinh ra. Anh nhẩm tiền sửa chân bát chưa nhận, rồi hỏi kho có chấp nhận nhận một phần trước không.
Ông lắc đầu. Hàng chưa rõ người trả, ông không ghi nợ vào tên người bệnh được. Vi đề nghị lập khoản này dưới tên người xin kiểm. Dư gật đầu, nhưng ông vẫn cần tiền mới cho xuất vật.
Anh lấy số dành cho bữa ăn dọc đường ra, đặt lên bàn. Còn thiếu ít, anh xin trả đệm bằng tấm vải khô mang trong túi; người kho xem độ dày rồi đồng ý bớt khoản ấy. Hai bên ghi đủ vào giấy. Dư thấy nhẹ túi hẳn khi buộc lại dây, đổi lại có hai chỗ trống rõ ràng trên kệ.
Vận chuyển không thể chỉ bọc bát rồi ôm đi. Người giữ kho kiểm nhịp, ghi giờ nạp cuối vào từng thẻ và giữ nguyên mỗi món trên đế đi đường riêng. Vi đọc lại mã thành tiếng, Dư nhắc lại để không nhầm. Anh đứng phụ giữ khay, không chạm tới phần nối kín bên trong.
Một chỗ đệm hơi chật vì chân bát cao. Dư gấp vải thành nêm, thử với chiếc khay rỗng trước rồi mới kê ngoài đế. Anh xin người giữ kho lắc thử cả khay như lúc xe đi qua chỗ xóc. Sau hai lượt không dịch, ông mới buộc dây. Chiếc bên trái và chiếc bên phải được đánh dấu bằng mã kho, không bằng lời anh nghĩ nó giống thứ nào.
Đến cửa, Vi yêu cầu anh đọc lại giờ nạp. Anh đọc đúng, nhưng bỏ sót một nét của mã thứ hai. Cô chỉ xuống giấy, để anh sửa ngay trước mặt người giao. Dư bỗng hiểu vì sao thầy Mộc bắt anh ghi cả khoảng nghỉ trong buổi thử: thứ người ta tự cho là nhớ thường không đáng tin bằng lúc còn có người đối chiếu.
Xe đi chậm qua đoạn nền đá xóc. Dư ngồi cạnh hai khay, tay giữ thanh ngang để chúng khỏi trượt. Đến một rãnh thoát nước, người kéo xe xin họ xuống đẩy. Vi đứng bên bánh, Dư giữ thanh ngang ở đầu khay; xe nhích qua từng chút, không cần nhấc riêng chiếc bát nào. Khi lên lại, anh nhìn hai nút dây, so chúng với dấu trên vải vừa buộc ở kho. Chưa có nút nào xô. Anh mới tựa lưng vào thành xe, nới bàn tay đã tê. Nắng đứng, bụng anh đói cồn cào. Vi mua hai chiếc bánh ở đầu cầu, đưa anh một chiếc và ghi thêm vào phần tiền đi lại của cô.
“Sau này tính,” cô nói khi anh định từ chối. “Đừng để đói rồi ngã vào khay.”
Anh ăn bằng một tay, vỏ bánh khô dính ở ngón. Chưa có gì trong xe được gọi là tìm thấy. Dư tự nhắc điều ấy khi xe rẽ vào ngõ nhà dưỡng, nơi Tố sẽ phải nghe thêm một lời chờ.
Mộc đón họ ở cửa, xem giờ nạp trước khi nhìn men. Ông chuẩn bị hai chỗ còn trống trong sáu vị trí dưỡng, giữ bát nhãn Tố ở chỗ cách ly. Dư đặt khay xuống theo lời ông, đứng thẳng người mới biết hai vai đã mỏi đến mức nào. Ba chiếc bát ở trong một căn phòng, và tên Phùng Tố vẫn chưa được buộc chắc vào chiếc nào.