Qua một ngày chèo và đổi bãi, họ tới cửa đường kéo vào nhánh hồ khi lịch còn chín ngày trước hạn giao.
Duy đếm lại trên sổ. Những vệt ngày từ bến Trúc đã dài hơn anh tưởng, có chỗ chỉ ghi một khúc sông, có chỗ cả trang vẫn chưa ra khỏi nhánh đá. Sáng nay là ngày thứ ba mươi mốt kể từ lúc anh cứu Thành ở kho. Họ chưa tới chỗ dỡ, giỏ tám còn phải đối món, hai giỏ gửi kho chưa có chuyến nhận chuyển.
Ở cửa nhánh, thuyền chờ kín một dải bờ. Những người kéo đeo đai đi qua đi lại, bàn nhận việc có nhiều tờ giấy gài theo thứ tự. Tố cho buộc Châu Diệp vào chỗ được chỉ, lên hỏi quãng nào còn nhận đổi ca trong ngày.
Duy theo mang giấy. Anh nghe người coi đường nói lượt dài phải đợi, lượt ngắn có thể đi nếu ghép đúng đoàn. Đêm qua anh ngủ ít, cứ tỉnh khi tàu đổi dây, nhưng lúc nhìn số ngày còn lại lại muốn đề nghị đi cả tối để bù.
“Tôi thức thêm một ca được,” anh nói khi Tố trở xuống.
Chị hỏi ai sẽ cầm chèo và ai nhìn nước lúc đổi phía. Một người thức không đưa nổi cả tàu ngược dòng; những người đã kéo từ sáng cũng cần nghỉ. Duy nhìn Thành ngồi gục dưới mui, cánh tay kê trên áo, không nói thêm rằng mình sẽ làm thay hết.
Tố tính thuê đội mới cho một đoạn, để người trên tàu ăn ngủ theo lượt thay vì bỏ ngủ cùng nhau. Giá cao hơn kéo bằng chính tay cả đội, nhưng họ không cần mua cả quãng, chỉ phần giờ đang thiếu trước khi đoàn sau tràn tới.
Người coi đường vẫn chưa nhận ngay. Ông hỏi hai tàu có giữ chung nhịp được không, có từng đổi dây ở khúc hẹp hay chỉ tới đây mới ghép. Tố lấy tờ xác nhận của thuyền trưởng hãng Hạ ra, chỉ đoạn họ đã đi cùng dưới núi và việc đã kiểm.
Ông đọc dấu hãng, không vì thế gạch tên những thuyền đang đợi. Ông gọi thuyền trưởng sang hỏi trực tiếp. Người ấy tới, xác nhận Châu Diệp đã đi trước, biết đáp hiệu và giữ khoảng, không đòi chen vào đoàn có cỡ khác. Nếu được chung một lượt phù hợp, tàu ông nhận giữ phần dây sau như đã làm.
Duy đứng cạnh nghe, nhớ sợi dây mắc ở bãi làm họ mất nửa ngày. Lúc ấy anh chỉ thấy thời gian trôi, còn bây giờ người đã được giúp có thể nói rõ về phần việc anh thật sự làm. Tờ giấy không biến thành tiền thưởng; nó giúp người giữ đường khỏi phải đoán hai con tàu lạ có kéo nhau mắc giữa luồng không.
Họ được ghép một đoạn theo điều kiện kiểm dây tại chỗ và nhận đội đổi ca. Tố đồng ý, ghi khoản thuê vào chi chuyến để quyết toán sau; công sáu lượng ròng của Duy vẫn ở dòng đã ký, không bị đem ra hứa trừ thêm cho mọi việc mới. Chị không đưa tiền cho ông coi đường ngoài phần phí ghi nhận.
Người nhận ca hỏi trên thuyền ai cần nghỉ trước, Tố chỉ hai tay chèo đã làm từ sáng. Họ xuống ăn khi dây còn chùng, người mới nhận đúng đầu rồi báo lại. Duy đứng xem một lượt, nhận ra mình có thể biết phần đổi thay diễn ra thế nào mà vẫn để người khác làm, không cần tự thức suốt để canh từng bàn tay.
Duy trở lại kiểm khung, người đội kéo mới tới xem dây. Họ hỏi phần nào có thể tháo, phần nào cần chờ nguồn nằm bệ. Anh nói ngắn, chỉ đúng vật, không kể cả chuyến cho người mới nghe giữa lúc phải bắt tay vào việc. Thành nhắc lại bộ gõ để người giữ dây ngoài biết khi nào phải dừng, còn quyết phần lái vẫn chờ Tố.
Cuộn dây nhận công từ tàu Hạ được đưa ra ở đoạn thiếu chiều dài. Tố kiểm lại trước khi dùng, nối theo cách người kéo chấp nhận, không lấy chuyện dây mới nhận làm lý do bỏ xem chỗ mòn. Sợi dẫn cũ đã mất dưới núi không có lại; họ làm việc với những thứ thật sự còn trên thuyền.
Khi đội kéo nhận lực, Châu Diệp tiến qua bậc nước đầu. Người chèo cũ đổi ca xuống ăn, Duy ngồi trông sổ một quãng, không phải đứng giữ phép liên tục. Tàu Hạ phía sau vào cùng nhịp, cờ đáp rõ giữa những cánh buồm chờ ngoài bãi.
Chiều, màu nước mở dần về phía nhánh hồ. Hai bên bờ thấp hơn, những bụi cây có khoảng nắng dài; bóng núi treo đã ở xa sau lưng. Tố hạ một phần buồm để theo đúng đội kéo mới, không cố vượt thêm khi vừa trả công được một đoạn nhanh.
Duy xuống bếp ăn phần cơm còn ấm. Thành đã ngủ được một lượt, tỉnh dậy hỏi có cần giữ chốt ngay không. Anh bảo lát nữa người ngoài gọi thì cùng kiểm, giờ ăn đã. Cậu ngồi xuống cạnh bát, chân duỗi thoải mái hơn những ngày đầu, vẫn không tự nhận việc phải kéo nặng.
Tối ấy họ đã vào nhánh đúng giờ cần, còn đường đi tiếp tới bến hồ. Duy mở sổ, ghi quãng vừa qua, phí chờ Tố đối và số giỏ còn ở mỗi nơi. Anh không viết đã tới khách hay đã kiếm được công. Sau trang ấy là tờ hai–một, anh để nguyên trong bọc rồi gấp sổ lại, nằm nghỉ theo lượt đã được người khác nhận thay.