Hạc dẫn Kha tới chỗ vá bao sau dãy kho. Một người đàn bà đang kéo kim qua mép vải dày, chân đè đầu bao để khỏi xô. Bên cạnh bà có một bát cơm ăn dở, phủ chiếc đĩa sứ lên trên.
“Bà Huệ, thợ vá muốn hỏi chuyện tiếng gõ.”
Bà cắn đứt sợi chỉ, nhìn bàn tay cầm giấy của Kha.
“Hỏi thì hỏi. Ta không biết chữa đồ đâu.”
Hạc giới thiệu bà là Tôn Huệ, từng khuân hàng ở các bến dẫn thủy. Ông không kể chiếc vòng từ đâu về. Kha ngồi xuống chiếc ghế thấp bà chỉ, để giấy trên đầu gối.
Cậu kể đã nghe ba tiếng gõ lẫn trong tiếng nước, không có lời gọi rõ. Nói xong, cậu gõ lên mép ghế theo nhịp mình nhớ. Âm thanh ở đây khô và nhỏ, khác với thứ từng nghe trong mộng; cậu nói cả điều ấy trước khi hỏi bà có nhận ra không.
Bà Huệ đặt kim xuống.
“Hồi khuân người bị thương, chúng ta gõ ba tiếng xin nhường đường. Hét mãi mất hơi, gặp tiếng nước thì người đứng xa cũng chẳng nghe.”
Kha nhìn bàn tay bà còn giữ sợi chỉ.
“Gõ vào đâu?”
“Chỗ nào kêu được. Ván xe, cột, tấm chắn. Gõ mà phải rảnh một tay.”
Cậu chép lại, bỗng nhớ sức nặng đè lên cổ tay trong cảnh. Nếu có người bị thương đi qua, có thể chủ vòng đang phải tránh. Cũng có thể tiếng gõ chẳng liên quan đến người ấy. Kha kìm câu hỏi đã thành hình, hỏi bà đã tự dùng cách báo ấy chưa.
“Có. Không phải ai cũng gõ đúng nhịp. Có lúc một người gõ, người khác còn hét hộ.”
“Bà có từng nghe ở Khê Nham không?”
Bà nhíu mắt nhìn ra lối giữa hai kho, như đang tìm một khoảng cách cũ.
“Ta từng chuyển hàng ở đấy. Lúc có người bị thương thì cũng gọi nhau thế. Nhưng đừng hỏi ta hôm nào, ca nào. Mấy năm rồi.”
Hạc ngồi trên một kiện bao rỗng, không chen lời. Kha viết tên nơi bà vừa nhận từng đến, tách khỏi dòng giải thích tiếng gõ. Khi cậu hỏi có nhớ ai cầm vòng điều thủy không, bà lắc đầu ngay.
“Người ở cửa nước mặc áo khoác ngoài gần giống nhau. Ta khiêng hàng, đâu đứng xem mặt từng người.”
“Bà có thấy một chiếc vòng gốm nối tay đồng?”
“Đồ ấy nhiều. Ngươi mang hình à?”
Kha vẽ nhanh hình chiếc vòng lên mặt giấy trắng, không vẽ thêm người quay lưng, rồi đưa bà xem. Bà nhìn rồi bảo có thể từng gặp, nhưng không dám nhận chính món ấy. Câu trả lời làm cậu hụt một chút. Cậu đã đi tìm người giúp nối ba dấu gõ với chiếc vòng; bà chỉ đưa được một cách người sống từng báo nhau trên bến.
Bà Huệ kéo bát cơm lại gần, nhìn bát cơm đã nguội.
“Ta không có khí lực như các ngươi. Khiêng mệt thì đổi vai. Muốn biết đường chuyển người, phải hỏi người đã khiêng cùng, chứ nhìn đồ chưa chắc ra.”
Kha ngẩng lên.
“Bà còn nhớ đi lối nào không?”
“Có lối xe và lối bậc. Khi có nước thì đổi. Ta không nhớ ngày ngươi hỏi họ đi bên nào.”
Cậu chưa hề có một ngày đủ chắc để hỏi bà. Trên bản chép chỉ có ngày chuyển vật, không phải ngày mộng được giữ lại. Kha gạch chữ “hôm ấy” vừa viết, đổi thành những lần bà tự khuân. Tờ giấy khó đọc hơn, nhưng ít nhất không khiến ngày trên phiếu thành ngày trong trí nhớ bà.
Cậu hỏi có thể tìm dấu đường vận chuyển ở đâu. Bà bảo xem mép ván cho xe qua và chỗ người khiêng đặt chân xuống nghỉ; muốn đối lại thì phải đến đúng bến, không thể lấy mặt sân xưởng làm giống hết. Khi Kha hỏi thêm vị trí các kho hồi trước, bà chỉ nhớ được một dãy gần lối xe, dãy kia đã lẫn với bến khác.
“Đoạn không nhớ, ngươi cũng ghi à?”
“Để lần sau ta khỏi hỏi bà như thể bà đã nói rồi.”
Bà cười, đẩy chiếc ghế ra xa chỗ rơi chỉ cho cậu ngồi đỡ vướng. Kha chờ bà ăn vài miếng mới đọc lại phần mình chép. Bà sửa một câu: tiếng gõ xin nhường đường cho người đang chuyển người bị thương, không phải cứ ba tiếng là báo có người bị thương ở đâu đó.
Cậu sửa theo. Bà không dẫn khí, nên chẳng có mộng tích nào của bà để cậu xin đọc lại cho rõ. Cậu chỉ có thể giữ lời bà đã chịu kể, cùng những chỗ bà đã từ chối nhận chắc.
Lúc hai người đứng dậy, trời vừa sẫm. Hạc hỏi có cần dẫn đi tìm người khuân khác ngay không. Kha nhìn tờ giấy; cậu còn một lượt ở chiếc vòng, và lời mới nghe có một chỗ có thể kiểm trước.
“Để ta xem lại tay người giữ. Nếu còn cần hỏi đường, ta quay lại.”
Trước khi gấp giấy, Kha ghi tên bà bên cạnh phần lời kể, chừa riêng hình vòng phía dưới. Bà chỉ nhận những câu đã đọc lại, không nhận vật cậu vẽ.
Cậu cảm ơn bà Huệ. Bà đã xỏ chỉ vào kim, chỉ gật đầu, dặn lần sau đến trước bữa cơm thì dễ nói chuyện hơn.