Ngày hai mươi, chủ lò mở kho từ sớm, đặt bộ dẫn cũ xuống bàn như hôm Kha dùng tĩnh châm. Bên cạnh có mẫu hỏng vừa tháo khỏi chỗ nối, mặt ngoài phủ màu xanh xám. Ông bảo đã chờ đủ nhiều ngày, lần này nên nhìn kỹ hơn xem người trước từng thay lớp phủ thế nào, đỡ tháo đi rồi lại thiếu mẫu để lắp.
Kha đang xếp dao cạo, nghe vậy thì dừng tay.
“Trong cảnh không có việc thay men.”
“Lần trước ngươi chỉ xem chín phút. Biết đâu mở lại tới đoạn khác?”
Cậu chỉ bản vẽ cửa lửa và bàn tay đặt trên cần. Cảnh ấy trở lại cùng tiếng bước chân, cùng chỗ sợ nóng và tiếng chạm khuất bên phải. Kha có thể đã bỏ sót chi tiết trong đó, nhưng không có đường từ việc nhìn kỹ bàn tay sang một buổi người ta pha men chưa hề được ghi ở cảnh trội.
Chủ lò quay bộ dẫn trong khăn, không buông. Ông hỏi một lượt nữa mất bao nhiêu. Câu hỏi từng khiến Kha nghĩ ngay tới bốn linhsa; hôm nay cậu nhìn mẫu hỏng bên cạnh. Thứ cần tìm nằm ở đó, còn nguyên lớp phủ, chẳng phải thiếu vì cậu tiếc tiền mở.
“Ta không mở để hứa thấy việc không có. Xin ông cho tháo mẫu này theo phần đã bàn.”
Ông ngồi một lúc rồi gọi thợ cả tới. Mẫu thuộc lò, muốn cạo phải ghi chỗ lấy và giữ phần còn lại. Họ chọn vùng đã bong mép, không động vào hai vòng nguyên buộc dấu từ buổi đo. Bộ dẫn cũ được người coi kho gói trả lên giá. Tĩnh châm vẫn ở trong hòm.
Việc đầu tiên là vẽ mặt ngoài, đánh dấu chỗ hỏng và chỗ chưa đụng. Kha dùng dao mỏng nâng mép phủ, thợ cả giữ mẫu trên nệm để lực không dồn vào vết nứt. Lớp xanh xám rơi ra một vảy nhỏ, phía dưới lộ màu nhạt gần như xương cá. Người coi bơm ghé tới, bảo mặt nào ở đây chẳng có bụi trắng.
Kha chưa gọi đó là men khác. Cậu lấy một vùng nữa ở mép đã hở, giữ vụn vào hai đĩa riêng, rồi đối với mẫu phủ cũ do người coi kho cho xem. Cạo tới cùng một độ sâu nhìn được, mẫu cũ không lộ đúng lớp nhạt như vậy; vảy cũng vỡ theo mặt khác. Thợ cả đổi chỗ ngồi để tự nâng một mép còn lại.
Dao khựng dưới tay ông. Kha tưởng chạm đồng, nhưng ông rút ra, chỉ một lớp mỏng bám sát bên dưới mặt xanh. Hai mẫu cùng màu nhìn ngoài, các lớp phía trong không giống. Cậu đặt thước cạnh mặt cạo để chép bề dày gần đúng, không lấy một mảnh vỡ làm số cho cả vòng.
Chủ lò cúi xem, hỏi có phải bị pha giả không. Người coi kho đứng ở cửa vừa nghe đã nói số này nhận theo phiếu đủ. Kha bảo chưa biết thứ nào được pha vào, ai làm và làm khi nào. Điều họ thấy trước mắt là lớp dưới khác, cần đối giấy vật liệu và cách phủ.
Đến giữa buổi, từ gian nung có người gọi hỏi lắp lại được chưa. Một mẻ đang chờ chỗ nối, nếu không trả kịp thì phải dời ca. Chủ lò nhìn đĩa vụn, mặt nặng xuống.
“Cạo rồi thì hôm nay coi như bỏ.”
Kha đặt dao xuống. Trước lúc cạo, cậu đã nói mẫu sẽ không lắp trả ngay, nhưng tiếng gọi từ gian nung khiến cái giá ấy bỗng cụ thể hơn một dòng nhận. Cậu cùng thợ cả ra xem những món đang chờ, xác nhận không lấy vòng chưa kiểm thay vào cho kịp một mẻ. Chủ cho người dời hàng vào chỗ mát, miệng không ngừng tính công đã mất.
Chiều, bụi men bám trên cổ tay Kha thành đường trắng ở mép áo. Cậu rửa sạch rồi mới trở vào bàn. Người coi kho đem hai phiếu cũ, một phiếu ghi tên hỗn hợp bán sẵn, một phiếu chỉ lượng nhận. Chưa có người làm trực tiếp ở đó để nhận cách dùng; chủ lò sai gọi anh thợ trẻ phụ trách lần phủ này vào ngày tới.
Hạc đọc phiếu cùng cậu, che phần giá trước khi để người khác xem hình lớp cạo. Ông hỏi giữ mẫu hỏng ở đâu. Kha chỉ hộp đã chia ngăn, xin người coi kho niêm phần vụn theo vị trí, không gom hai đĩa vì màu gần nhau. Nếu sau này cần đối lại, cậu muốn biết vảy nào đã lấy từ vùng nào.
Chủ lò quay lại trước khi đóng cửa. Ông nhìn bộ dẫn trên giá rồi hỏi không còn cách nào biết người trước đã làm ra sao thật ư. Kha đáp có thể hỏi người sống, xem phiếu và vật còn lại; nếu họ không giữ thì có phần sẽ không biết được. Ông im lặng, lấy phiếu ra khỏi tay Hạc để đọc lần nữa.
Kha thu dao. Một ngày sản xuất đã mất, cậu không có cảnh mộng mới đem bù cho ai nghe. Trên mặt cạo nhỏ, đường ranh hai lớp vẫn hiện rõ dưới ánh cửa, đủ để buổi sau có một câu hỏi khác hẳn câu ban sáng.