Ngày mồng ba, Kha và Hạc trở lại nơi từng mở lớp dẫn khí. Chuyến hỏi đường hôm trước chỉ đưa họ tới một cửa đóng. Lần này người trông nhà đã có mặt, nhưng khoảng sân phía trong chất đầy chân bàn, không còn giá cho học viên đứng tập.
“Lớp chuyển rồi,” ông nói. “Muốn học thì sang dãy mới. Muốn sổ cũ, phải đợi bên nhận kho tìm.”
Kha đưa hai hình tay cho xem, hỏi ai từng dạy cách giữ hơi qua nhịp thứ ba. Người trông lắc đầu, dẫn họ tới gian cuối, nơi một người đang sửa dây buộc cho mấy dụng cụ tập. Đó là người dạy thay, mới nhận lớp sau những người cũ.
Ông xem hình, nhận phấn trắng thường được dùng đánh chỗ đặt tay. Còn lưng áo và giọng nhắc thì ông không nhận. Ông có thể dạy một câu giống vậy, nhưng nghe qua Kha kể không đủ để nói người trong vật là ai.
Hạc hỏi có bản bài tập giữ lại không. Người dạy thay chỉ dãy hòm trống sát tường. Sổ đã theo lớp chuyển đi, một số giấy cũ đưa vào kho chung; ông chưa có quyền tự lấy về. Ông hẹn khi bên kho đối xong danh mục sẽ báo, không nhận lời tìm ra ngay trong ngày.
“Người mua đang đợi,” Hạc nói. “Nếu ông viết rằng lời này đúng là cách lớp từng dạy, chúng ta bớt được một chuyến.”
Người kia nhìn ông.
“Ta nói lớp ta đang dạy thì được. Lớp cũ, ta không đứng ở đó.”
“Ta có thể bù công tra hỏi. Ông tìm một người từng biết rồi ghi giúp.”
Hạc lấy túi tiền ra nhưng chưa mở. Kha giữ tay trên hai hình, nghe điều kiện trả công gần trở thành giá của một câu vừa ý. Ông dạy thay chưa nhận, cậu cũng không có lý do ép ông nói nhiều hơn việc mình từng làm.
“Để chúng ta tìm người học cũ,” Kha nói. “Ông cho hỏi qua ai được?”
Hạc nhìn cậu, cất túi lại. Người dạy thay thở ra, nói nhiều học viên trở về thuyền hoặc các bàn vận hành. Hỏi bên nhận việc có khi dễ hơn tra sổ lớp, vì họ còn gặp nhau đổi ca. Nếu tìm được người tự dùng đồ, nên mang lời kể tới chứ đừng chỉ đưa hình lưng áo rồi hỏi có giống không.
Trước lúc ra cửa, cậu nhìn những hòm trống, hỏi sổ chuyển có ghi ai đang giữ không. Người dạy thay tìm tờ giao đồ, cho cậu chép nơi nhận nhưng che những mục khác. Kha chỉ cần một chỗ để hỏi tiếp. Hạc xin ngày hẹn chắc, người kia lắc đầu: ông không muốn họ tới rồi lại đứng chờ như hôm nay. Hai người đành nhận lời nhắn qua bàn nghề, thay vì tự viết một ngày xong vào tờ việc của mình. Quãng chờ ấy sẽ phải nói lại với ba chủ đang cân giá thu hồi.
Kha cảm ơn, hỏi có thể để lại một bản mô tả không có giá. Ông nhận, ghi phần mình chỉ được xem hôm nay lên mép. Tờ giấy nhỏ ở lại bên những dụng cụ mới, không biến thành xác nhận cho ba món hàng đang niêm tại bến.
Trên đường về, Hạc đi nhanh hơn thường lệ. Đến chỗ nghỉ xe ông mới dừng, tránh một vệt bùn rồi quay lại.
“Ta không định mua lời nói dối.”
“Ta biết ông muốn họ giúp tìm cho nhanh.”
“Chờ tới lúc kho xếp xong, người bán nhận giá thu hồi là hết.”
Kha nhìn ông. Khoản hoàn phí từng được đề nghị cũng đủ khiến cậu muốn xong việc. Cậu hiểu sự sốt ruột, chỉ không thể dùng tiền khiến người dạy thay nhớ một buổi ông chưa dự.
“Ta nhờ người bến tìm ngay chiều nay. Có công tìm thì tính công tìm. Đừng gộp với câu phải nhận.”
Hạc không trả lời ngay. Ông đứng nhìn chiếc xe vừa qua rồi gật đầu, bảo cậu tự nói phần muốn hỏi, ông sẽ giúp dẫn tới người đang trực.
Ở bàn Tam Hội, Kha đưa giấy bảo lãnh và kể rõ cần tìm học viên từng được dạy giữ khí theo tiếng nhắc. Người chèo thuyền gọi một thợ vừa xong phiên, để cậu hỏi trực tiếp. Anh ta từng đi học, nhưng không nhận giọng qua miệng Kha kể lại.
“Chúng ta được nhắc đừng giật tay theo rung ngược,” anh nói. “Cứ qua đủ nhịp rồi mới thu. Mới học mà nhả sớm, khí dễ tán.”
Kha hỏi anh đã dùng món nào trong ba hình. Anh chỉ nhìn rồi lắc đầu: đồ tập ở các lớp gần giống nhau, không thể lấy hình ngoài để nhận đúng. Cậu hỏi tiếp lúc rung ngược có được ngừng không. Anh bảo từng bị nhắc phải giữ đều, còn một số người quen việc lại làm khác, tùy thầy và buổi tập.
Lời ấy đáng chú ý nhưng chưa trói được ba cảnh vào một lớp. Kha xin phép chép, đọc lại trước mặt anh. Anh sửa chữ luôn luôn thành lúc mới học, rồi mới chịu nhận phần lời của mình. Trước khi đi, anh hứa nhắn một người đã học lâu hơn tới hỏi sau phiên.
Hạc đứng đợi suốt cuộc nói chuyện, lần này không đem tiền ra. Ông hỏi anh cần bù buổi nghỉ không; anh chỉ nhờ người xưởng xem giúp đầu móc dây đang bị sần, cạ đứt vải tay.
Kha nhận chiếc móc, bảo mai trả ở bàn thuyền. Về tới xưởng, Nghiêm đã cất cơm, hỏi có tìm được sổ không. Cậu lắc đầu, ngồi xuống mài mép móc dưới đèn. Tối nay tìm được một người thật phải dùng những thứ mình đang hỏi, cũng nhận thêm một món cần làm cho kịp sáng.