Sáng mồng sáu, người coi kho đặt bộ dẫn cũ lên bàn kê ngoài gian nung. Kha đối mảnh gỗ buộc vật với sổ đưa khỏi máy rồi mới trải khăn. Dòng ghi đã cũ nhưng liền với những món bên cạnh, có người coi kho nhận từng chuyển nó xuống. Chừng ấy giúp cậu biết đường giữ vật ở lò, chưa kể được mọi lần nó đã qua tay.
Người thợ cả được cử canh tới sớm, tự thử chuông nước. Ông biết dẫn khí và tĩnh châm, từng trông người học mở vật nghề. Kha kể dấu lẫn nhịp lần trước ở bến, chỉ rõ lúc nào phải rút châm. Ông bắt cậu nhắc lại tên mình, nơi ngồi và động tác buông tay, rồi đặt ghế sao cho không bị bàn che cổ tay.
Hạc giữ giờ. Chủ lò muốn đứng sát để xem, bị thợ cả đẩy lui khỏi đầu bàn. Bốn linhsa của Kha được dùng cho lượt mở này; phần vật liệu kê và người canh thuộc việc đã bàn, không có câu hứa đọc tới khi tìm đủ lời giải.
Châm chạm vết tiếp dưới đai đồng lúc chín giờ.
Một luồng nóng phủ mặt Kha. Trước mắt là miệng lò đỏ sẫm, thấp hơn cậu tưởng. Tay trái giữ một cần ngang; tay phải ép vào mặt đồng ráp, ngón út đau ở đốt. Tiếng lửa hút rì qua khe. Có ai đi sau lưng, nhưng sự chú ý trong cảnh ghim vào một chấm sáng nơi mép cửa.
Hơi được giữ qua ba nhịp ngắn. Cần bớt rung, ngọn lửa lùi khỏi mép. Rồi tiếng nổ lép bép làm bụng co lại; bàn tay siết cần mạnh hơn, mắt tránh sang chấm sáng bên trái. Phía phải có vật gì chạm khẽ vào giá, nghe được nhưng không được nhìn tới.
Sức nóng dâng, nỗi sợ tới trước ý nghĩ thành lời. Chấm sáng chập chờn. Cánh tay tìm một điểm tì đã quen, gắng giữ lửa ở yên. Mọi thứ bỗng trở lại lúc đầu: luồng nóng phủ mặt, đốt ngón út đau, tiếng bước chân sau lưng.
Kha nhận ra cảnh lặp. Cậu không quay được đầu sang phải. Lần thứ hai, tiếng chạm giá vẫn ở đúng chỗ cũ, sự chú ý vẫn tránh miệng lửa khi nó phồng lên. Cậu theo cảm giác bàn tay, thấy lúc siết cần thì một nhịp rung nhỏ chìm mất dưới sức ghì. Cảnh lại mở đầu, không dẫn tới ca tiếp hoặc người đứng sau.
Chuông báo từ ngoài lọt vào. Kha rút châm theo hiệu đã hẹn. Chín giờ chín phút, bàn kê trở về dưới hai bàn tay cậu. Thợ cả hỏi tên, hỏi chân đang đặt ở đâu rồi mới cho Hạc đẩy bát nước tới. Kha thở chậm, không thử nhịp vừa thấy lên bộ dẫn trước mặt.
“Còn nữa không?” chủ lò hỏi.
“Cảnh khoảng ba phút, đã lặp ba lần. Chỉ giữ nhiệt ở một đoạn ca.”
“Có thấy người thay vòng?”
Kha lắc đầu. Ông thợ coi kho cũng lắc theo khi được hỏi có nhớ người giữ bộ ấy luôn sợ lửa không. Ông chỉ nhớ dụng cụ từng dùng ở đâu; chuyện trong lòng người vận hành thì ông không nhận thay.
Kha ghi riêng cảm giác sợ vừa trải. Nó rõ đến mức cậu muốn gán ngay cho một người đứng trước lò nhiều năm. Nhưng điều cậu có chỉ là sợ hãi trong khoảnh khắc ấy, không biết do tính người, do một lần bị bỏng hay vì ngọn lửa hôm đó bất thường. Cậu gạch chữ “luôn”, thay bằng “trong cảnh”.
Thợ cả đọc phần cần ghì xuống, bảo người giữ lò khi sợ lửa thường dồn sức vào chỗ nhìn được. Ông đưa Kha tới bộ cần đang tháo, cho thử bằng tay khi chưa nổi lửa. Kha ghì theo cảm giác vừa nhớ; một tiếng gõ ở chân giá nhỏ hẳn đi dù người kia vẫn gõ đều.
“Tay ngươi che mất nó,” ông nói. “Chưa biết người trong vật có nghe hay không.”
Kha buông cần. Tiếng gõ trở lại. Cậu nhớ sàn khô của vòng nước, nhớ mình đã muốn mỗi món cũ bù đúng phần một món khác không thấy. Bộ dẫn này có trước lớp chuẩn, song người dùng nó cũng nhìn lệch, nghe thiếu và sợ thứ ở ngay trước mặt.
Hạc đem bánh tới khi chủ lò gọi người coi bơm đi nhận phiên chiều. Kha vừa ăn vừa chép vị trí cửa lửa, mặt đồng và chỗ tay tì, để không trộn bản vẽ với cảm giác. Cậu không vẽ người phía sau vì chưa hề thấy người ấy.
Thợ cả ngồi chờ cậu ăn xong mới thử lại các câu hỏi ban sáng. Khi Kha đứng dậy, ông bảo khoan dùng khí, giúp coi kho gói vật trước. Bộ dẫn được trả lên giá, dây và dấu cũ đối đủ; bản giờ ghi một lượt chín phút, vật chưa mở thêm cho ai.
Chiều ấy Kha chỉ đo đường truyền của bơm đang nguội. Nhịp giữ nhiệt có thể giúp cậu nghĩ ra cách giảm chao khí qua khớp, nhưng cửa lò và bể nước chẳng có cùng việc cần giữ. Cậu đặt thanh dò vào chỗ sẽ đo ngày mai, nhờ thợ cả kiểm khoảng tay với cần ngừng. Ông thử một lần, dời cần lại gần hơn rồi bảo: “Giờ mới tới việc của chúng ta.”