Sáng mồng năm tháng tư, Kha đặt hòm xuống sân Lò Đồng Cạn. Bốn ngày đường làm quai hòm in đỏ vào vai. Phía sau dãy mái thấp, khói chỉ lên từ một miệng lò; hai ống còn lại nguội, chim đậu ngay trên vành. Cậu tưởng sẽ nghe tiếng búa trước, nhưng tiếng người cãi nhau vọng tới từ mương nước.
Hạc kéo cậu tránh chiếc xe chở đất rồi dẫn xuống đó. Một người xắn quần đang giữ tấm ván chia dòng. Chủ lò đứng phía trên, tay cầm phiếu, nói nước ít thế này thì bơm có mới cũng chẳng đủ dùng. Người dưới mương không buông ván.
“Đến phiên ruộng. Chiều ông muốn đo thế nào cứ đo.”
Chủ lò thấy Hạc thì ngừng. Ông nhìn hòm dụng cụ của Kha, vẻ mặt dịu đi một chút, bảo hai người lên nhà uống nước. Nhưng Kha còn nhìn dòng nhỏ đang rẽ qua chân người giữ ván. Xa hơn, những luống mới cấy hiện thành hàng mỏng giữa đất sẫm.
“Phần này đã hẹn trước rồi?” cậu hỏi.
“Chia từ đầu mùa,” người dưới mương đáp. “Lò đã nhận dấu.”
Chủ lò vỗ tờ phiếu vào lòng tay. Ông không phủ nhận, chỉ bảo lúc nhận dấu còn có nước từ khe trên. Khe cạn nhanh hơn mọi năm, giờ muốn đủ một mẻ phải chờ qua đêm. Thợ ăn theo mẻ không thể chờ mãi, khách cũng chẳng chịu nghe chuyện mưa nắng.
Lên mái che, ông cho xem bơm. Nó nằm bên bể nông, trục đồng nối qua vòng gốm tới bộ dẫn khí. Nước còn lại để thấp hơn vệt rêu cũ một gang. Kha chưa mở hòm, trước hết xin giấy chia nước và hỏi giờ nào được ngừng máy. Chủ lò ngạc nhiên, rồi quay sang Hạc.
“Ta mời thợ sửa bơm.”
“Ta đã nói cậu ấy phải xem chỗ dùng,” Hạc đáp. “Chưa nói cậu ấy biết lấy nước từ đâu.”
Người coi bơm tháo tấm che theo lời chủ. Kha xem vết rơ ở khớp, đưa tay thử khoảng trống lúc máy nguội. Cậu thấy vài chỗ có thể sửa, song không chỗ nào làm dòng nước ngoài mương tự đầy hơn. Nếu bơm hút nhanh lên, phần thiếu sẽ tới ruộng sớm hơn.
Chủ lò ngồi xuống cạnh bể, nói khoản ứng sẽ cao nếu cậu làm máy đủ sức kéo phần nước trước kia về. Tiền ấy có thể mua vật liệu ngay, khỏi nhận từng món vá lặt vặt. Kha nhìn những bao đất đã nhào dở dưới hiên. Cậu hiểu vì sao ông muốn thúc máy; đất chờ quá lâu cũng thành tiền mất.
“Ta nhận sửa chỗ hao và chỗ chạy không ổn,” cậu nói. “Nhưng phải dùng trong phần nước đã chia. Muốn đổi phần thì ông bàn lại với người ruộng trước.”
Chủ lò im lặng. Ngoài sân, người kéo xe đẩy thêm một vòng mà chưa có ai mở cửa nhận đất. Ông gọi người ấy để vào bóng râm, rồi trở lại, giọng đã bớt niềm nở.
“Vậy khoản ứng kia không còn.”
Kha gật đầu. Cậu chưa cầm đồng nào, nhưng cảm giác hụt vẫn rõ. Có tiền ứng, những buổi thử thất bại sẽ dễ chịu hơn nhiều. Hạc không đỡ lời cho cậu. Ông xin xem phần phí còn lại, hỏi kỹ công sửa, công thử và phần nào chỉ trả sau khi nghiệm thu.
Đến trưa, họ mới bàn tới đồ cũ. Chủ lò dẫn Kha vào căn kho sát vách nung. Trên giá có vòng gốm, lõi đồng và một bộ dẫn đã xỉn màu, dây buộc kèm mảnh gỗ ghi ngày đưa khỏi máy. Người coi kho bảo bộ ấy dùng trước thời người trong lò đi học cách giữ nhịp chung; ông từng thay giá kê cho nó, có thể chỉ đúng vị trí cũ.
Kha xin quyền đối giấy, đo mẫu và mở một lượt nếu vết khí còn đủ. Chủ lò giữ chìa khóa trong tay, không lập tức trao. Ông sợ tháo ra không ráp lại được, cũng sợ đồ bị chép hết rồi thợ bỏ đi.
“Đồ vẫn của lò,” Kha nói. “Tháo tới đâu phải có người của ông. Ta nhận việc sửa, còn phần thấy được trong vật, muốn dùng ra ngoài sẽ ghi rõ giới hạn và hỏi phần riêng.”
Hạc kéo ghế tới, để hai bên viết từng việc. Kha không được tự mang vật khỏi kho; lò cho đối và thử trong phần công đã nhận, có người chứng. Lịch nước giữ nguyên. Những chỗ vượt sức giấy nghề của cậu phải để thợ lò đủ nghề đứng tải và có quyền ngừng.
Chiều, người giữ nước quay lại tháo ván cho phiên lò. Chủ lò gọi anh lên xem giấy sửa, vẻ miễn cưỡng vẫn còn, nhưng không giấu dòng giữ phần ruộng. Anh đọc rồi hỏi nếu máy hút mạnh hơn thì ai nhìn mương. Người coi bơm nhận đứng đó trong buổi thử đầu.
Kha phụ kéo tấm che về chỗ cũ. Khi cúi xuống, cậu thấy lòng bể có những đường cát do nước rút để lại. Đồ cũ ở ngay sau bức tường, gần hơn bất cứ lúc nào từ khi rời bến. Nhưng trước khi mở nó, cậu còn phải học xem một phiên nước ở đây đi qua những bàn tay nào.