Ngày thứ mười bảy, Tầm trải bản vẽ dốc trên sạp đã dọn trống. Anh đặt ba mẩu gỗ lên lịch: xe hàng nặng, hàng có giờ nhận gấp, người đi bộ. Người bán nước nhìn ba mẩu, hỏi hàng gấp có phải cứ chủ hàng bảo gấp là được đi trước hay không.
Tầm chỉ phần giấy nhận phải đưa từ bến hoặc nơi giao. Chuyến thuốc đã lỡ giúp họ biết có thứ không thể xếp đợi như bao đá, nhưng không thể vì một lời nói mà phá cả lượt dân. Hữu Thành đứng bên cạnh, đề nghị ghi từ trước buổi, người tới sau phải xin chỗ ở khoảng kế.
Họ không chia ba phần ngày bằng nhau. Sớm có nhiều người gánh hàng vào chợ, trưa hàng thiết yếu cần nối chuyến, xe nặng nhận ở khoảng dân thưa hơn. Lượt dân vẫn xen giữa để người đi lấy nước không phải chờ hết cả buổi hàng. Tầm dùng thời gian đã đếm, để trống khoảng chuyển lượt thay vì xếp xe chạm sát xe.
Người trạm được giao ghi nói như vậy bớt được nhiều chuyến. Tầm đặt số lượt thực lên bàn, hỏi muốn tăng ở khoảng nào mà vẫn đủ người giữ và chỗ chờ. Người ấy thử xếp thêm một mẩu gỗ vào giữa, rồi dừng khi Hữu Thành hỏi xe sau nằm đâu lúc xe trước chưa dỡ.
“Đi ra xem,” Hữu Thành nói. “Trên giấy tôi quay chiếc nào cũng được.”
Họ mang một xe trống đi từ bến tới hết dốc. Tầm để sổ cho Nghi giữ, tự cầm thước và đi bên bánh. Ở điểm chờ đầu tiên, xe quay được lúc sân không hàng, nhưng nếu có hai xe đợi nối thì càng chiếc sau chắn góc của chiếc trước. Hữu Thành kéo thử một vòng, bánh sát mép nền lún.
Tầm gạch điểm ấy khỏi phần quay đầu. Nó chỉ được dùng cho xe đi thẳng một lượt, không thành bãi đỗ. Hàng quá giờ phải nằm ở sân nhận có chủ, đừng kéo xe tới đầu ngõ rồi bắt mọi người nhường vì không quay được nữa.
Điểm thứ hai ở gần ba gian nhà cho thuê. Trên bản cũ đủ rộng, ngoài đường có bậc gỗ mới đặt trước cửa. Chủ nhà bảo bậc không tháo, khách già cần bước. Tầm định hỏi có thể dời vào một buổi, rồi nhìn người khách đang vịn cửa xuống. Anh quay lại hỏi dùng khoảng bên quầy trống cuối sân được không.
Chủ quầy chịu cho đặt một xe đợi trong giờ không nhận rau, với điều kiện không có hàng chất cao sát mái và hết giờ phải ra. Hữu Thành thử lùi, cần một người nhìn góc khuất. Người giữ lối đứng vào đó, phát hiện từ chỗ này không thấy được tín hiệu đầu dưới. Họ đổi điểm gọi sát cửa quầy để tiếng truyền tới, rồi đi lại lượt nữa. Họ ghi chỗ đứng cho người ấy, không vẽ thêm một mũi tên quay rồi bỏ qua người làm.
Nghi đếm thời gian từ lúc gọi xe tới lúc càng ra hết. Lượt chuyển dài hơn Tầm đã tính. Anh nới khoảng trắng trên lịch, mất thêm một chuyến nặng trong buổi. Người trạm hỏi có phải buổi thử cứ sửa tới khi chẳng còn hàng nào đi; Tầm đưa thước cho anh ta đứng nhìn góc tường, rồi nhờ thử báo lúc bánh đã qua.
Tới khi xe ra hết, người ấy tự chép khoảng chuyển mới vào bản của mình. Tầm không hỏi lại câu vừa rồi. Anh cùng Hữu Thành đi tiếp tới chỗ nhận, xem nơi dỡ có đủ người trước khi đưa xe kế vào hay không.
Cuối tuyến, một ngõ nhỏ đi xuống khu dân thấp đang được đề nghị làm đường né. Họ thử đi bộ qua, thấy cửa bếp mở thẳng ra đường và một đoạn gạch bở cạnh mương. Xe trống còn phải nhấc càng tránh, chở kiện sẽ chắn cả hai cửa. Tầm bỏ đường né ấy khỏi phương án xe, chỉ giữ lối dân vốn dùng, không chuyển rắc rối từ lan can sang cửa bếp người khác.
Khi trở lại sạp, cả ba mẩu gỗ đều xước bẩn vì Tầm mang theo để đánh dấu tại chỗ. Lịch mới có hai điểm chờ sửa, một chỗ quay bị bỏ và ít chuyến hơn. Hữu Thành xem giờ kết thúc phiên mình, bảo phần chuyển sau đó phải có người tới trước, không thể chờ anh rời mới đi tìm.
Nghi mở bảng công người giữ. Tầm đã tính người kéo, cân và hai đầu gọi, nhưng một người đứng góc quầy chưa có trong phần tiền. Anh thêm vào, nhìn tổng cao hơn khoản chủ hàng mới chịu ứng cho ngày thử. Cô bảo để sáng mai cùng tới hỏi lại từng người, không coi việc có tên trên lịch là đã nhận được ca.
Tầm thu các mẩu gỗ, xin người trạm đem bản này về báo số chuyến giảm đúng như đã sửa. Nếu nơi nhận vẫn hẹn số cũ, xe sẽ lại tới dồn ở chân dốc. Anh đã bớt một hàng trên giấy; bây giờ phải để người ở bến thật sự bỏ một lượt giao, dù đó chính là phần khiến họ khó chịu nhất.