Ngày thứ hai mươi chín, Tầm ngồi đối soát ở sân nhận hàng. Những kiện chậm được xếp theo ngày giao lại, không đánh chung thành hàng trạm làm mất. Anh cùng chủ xe kiểm giờ tới, phí chờ và khoản phải trả vì chuyến ưu tiên chen. Người chủ nhận phần đầu tiền phạt theo giấy, phần còn lại vẫn nằm trên sổ của Tầm.
Sau khi trả công các phiên đã chạy, phí khám còn lại không nhiều. Anh hoàn cho Nghi một phần nhỏ của khoản ứng, đưa giấy để cô trừ đúng số. Cô kiểm xong cất tiền, không gạch cả dòng nợ. Khoản phôi, dụng cụ và công vá từ vụ kho vẫn ở trang riêng, chờ thu nhập tiếp theo.
Một người giao hàng gọi anh sang xem thùng phụ kiện bị giữ lại từ buổi trước. Hàng đi tới lò, có phiếu của xưởng Trần Sách. Tầm nhận ra dấu đóng trên mép một chi tiết dẫn, không phải vì nét ấy hiếm, mà vì anh đã vẽ nó bên cạnh ruột van sai trong hòm.
Anh xin chủ thùng cho nhìn rõ. Người ấy lật miếng gỗ chèn, để anh xem dấu lô dưới ánh sáng. Tầm mở trang chép cũ, đối hai nét khuyết ở mép dấu. Chúng trùng nhau. Anh chưa mở gói ruột van, cũng chưa có lý do tháo chi tiết mới khỏi thùng. Anh nhờ người giao ghi vị trí món mang dấu trong thùng, để tới nơi không phải đổ cả thùng ra tìm. Người ấy buộc thêm thẻ giấy vào thanh chèn, nhắc đừng coi thẻ này là niêm hàng lỗi; Tầm chép đúng lời vào trang đối dấu.
“Lô này đều đưa tới lò?” anh hỏi.
Người giao chỉ giấy. Có phần đã đi trước, phần này chậm vì lịch chia chuyến. Ông nghe chuyện van ở kho, lập tức hỏi có phải nên trả hết hàng. Tầm lắc đầu, nói ruột ở kho lắp ngược, dấu giống chỉ cho biết một đường cung ứng, chưa chứng minh những món này có cùng lỗi.
Người ấy vẫn muốn anh ký rằng đã xem mà không thấy hỏng, để khỏi chịu trách nhiệm mang hàng vào. Tầm trả lại giấy. Anh mới nhìn dấu ngoài, chưa thử độ khít, chưa kiểm cách lắp ở lò. Anh có thể ghi đã đối dấu, không ký thay kết quả chưa có.
Hữu Thành tới nhận công một chuyến khác, nghe tới lò liền ngồi xuống cạnh thùng. Anh mở phần lịch giao mình giữ, chỉ những ngày nguyên liệu tới dồn rồi trống. Chia chuyến giữ được đường dân, nhưng lò vẫn hẹn sản lượng theo lịch cũ. Muốn đủ đơn, họ sẽ nhận một đợt nặng sau những ngày thiếu hàng.
Tầm nhớ cách các xe từng dồn sau giờ niêm yết. Anh hỏi lò có sửa lịch sản xuất chưa. Người giao nói thợ đang chạy bù, thầy Trần đã cho gọi người khám bộ vỏ. Anh có thể đi nếu nhận việc, chứ hàng trong kho lò không mở để người ngoài tới chọn mẫu đem về.
Anh xin một phụ kiện làm đối chứng. Người giao không có quyền cho, nhưng chịu đưa lời tới người quản vật tư, kèm đề nghị nhận khám. Tầm phải ghi rõ phần việc: xem chu trình và cách lắp, giữ số đo mình thực làm, mẫu chỉ lấy khi có giấy chuyển. Anh chưa có quyền tự ký nghề, kết quả được trình người chịu ký của xưởng.
Gần chiều, người chạy giấy từ lò về trạm mang phiếu nhận. Trần Sách đồng ý cho Tầm tới khám, ăn ở tại chỗ trong ngày làm, công tính sau khi chốt phạm vi. Một món đúng dấu có thể đưa ra đối chứng dưới người quản vật tư, không được tự mang khỏi lò trước khi ghi nhận. Không có khoản thưởng hay tiền kiện lô hàng nào trong phiếu.
Tầm nhìn chỗ ký của thầy. Anh còn có thể tìm việc nhỏ quanh chợ, ít phải dừng máy hay nghe người đòi kịp đơn. Nhưng nếu bỏ qua, dấu lô trong hòm vẫn chỉ nằm cạnh một món sai đã giải, còn nguyên liệu dồn đang được đưa thẳng vào một mẻ bù.
Anh nhận việc, xin đi nhờ xe vật tư sáng hôm sau tới lò, phần công đi đường tính trong ca đã hẹn, không thuê Hữu Thành bỏ chuyến đò. Hữu Thành giúp chèn hòm mẫu giữa hai kiện nhẹ, dặn đừng đặt cạnh thứ có thể đổ lên nút niêm.
Trước khi về lấy áo, Tầm bàn giao bản đo đường cho người giữ lối và người trạm. Nghi giữ bản tổng, những khoản chi còn lại có người đối soát tại chỗ. Anh không nhận rằng tuyến sẽ luôn tốt khi mình vắng; lịch có điều kiện dừng và người phải gọi khi tải hay điểm chờ đổi.
Người bán đậu hỏi anh bao giờ quay lại. Tầm đáp chưa biết phải ở lò bao lâu, buổi họp trả nợ đã hẹn anh sẽ nhờ chuyển lời nếu không kịp, không tự bỏ hẹn. Bác bảo sáng mai cứ đi sớm, phần ca của bác đã nhận với người giữ lối rồi. Tầm gật đầu, xách hòm có gói ruột van nguyên niêm về xưởng, để dấu lô mới chép nằm cùng phiếu mời khám.