Ngày thứ sáu mươi ba, người thợ chứa hàng tìm Tầm lúc anh ra rửa khay. Anh ta đứng bên giếng, đợi những người khác xách nước đi hết mới hỏi mẫu dưới đáy đã thử ra thứ gì. Tầm nói phần giữ ẩm ngưng dẫn khác trong phép nhỏ, chưa kết xong ở lò.
Người ấy nhìn hai bàn tay mình, kể một lần mưa nguyên liệu tới muộn. Bạt tốt đang che xe, anh ta dùng tấm cũ cho dãy thùng dưới mái hở. Có chỗ nước luồn qua mép bạt; sáng ra mặt trên đã se, anh ta lật lớp cát lên rồi để cấp tiếp vì người trong lò giục.
“Đó là thùng nào?” Tầm hỏi.
Anh ta chỉ được dãy và ngày, không dám chắc thùng cuối có đổi chỗ sau đó. Tầm không bảo cứ nhận trúng mẫu đáy cho dễ nối. Anh lấy giấy nguồn ra, nhờ người ấy đánh đúng phần nhớ được, chỗ không nhớ để trắng.
Đến dòng tên, người thợ rút tay. Nếu biết nước vào mà vẫn cấp, chủ xưởng có thể đuổi anh ta trước lúc tiền công còn thiếu được trả. Anh ta muốn Tầm nói chỉ do cát nhà cung ứng chưa khô, không nhắc tấm bạt.
Tầm kéo khay nước tránh khỏi giấy, ngồi xuống bậc giếng. Anh không muốn mất lời khai, cũng không thể hứa xóa chuyện vừa nghe. Nếu cát vào kho khô rồi mới ướt, cách sửa khác với nhận nguyên liệu ướt ngay từ đầu. Họ cần biết để giữ những thùng sau.
“Nhưng anh không phải cả cái lò,” anh nói. “Tôi sẽ ghi cùng giờ họ gọi cấp và mức mẻ đã chạy. Không chỉ mang mỗi tên anh tới.”
Người thợ hỏi anh có giữ được việc cho mình không. Tầm đáp quyền ấy ở chủ xưởng. Anh có thể đề nghị giữ công đã làm, yêu cầu nghe đủ trình tự và không coi lời nhận một việc là nhận mọi món hỏng. Nếu người ấy vẫn muốn kể, anh sẽ mời người chứng để lời không bị đổi sau lưng.
Họ vào bàn lúc Nghi đang sắp phiếu. Cô đọc xong, hỏi lại ngày và phần nhớ chắc, không giục ký ngay. Người thợ kể có lần ca dồn đến mức thùng vừa tới đã mở, chẳng ai có giờ xem đáy. Lịch dựng hồi mới tới lò có thể đối người gọi cấp hôm ấy.
Chủ xưởng tới cùng Trần Sách. Nghe đoạn bạt, ông lập tức hỏi thợ có chịu tiền cát không. Tầm đưa cả bảng ca qua, nhắc lúc đó người trong lò vẫn nhận thùng và tăng lượng để bù đơn. Muốn xem thiệt hại, cần đối những quyết định ấy cùng phép thử, không lấy một lời khai làm số tiền đã chốt.
Trần Sách đặt bàn tay lên tờ lịch. Có chữ ông ở phần cho ghép mẻ, dù những giờ đổi người không ghi đủ. Ông bảo chuyện trong xưởng để xưởng xử, khách không cần được xem mọi lần bàn giao bạt.
“Nếu chỉ nói cát ướt rồi giữ kín lịch ép, người ta sẽ tưởng đổi bạt là hết,” Tầm đáp. “Mình chưa thử được điều ấy.”
“Con muốn treo cả chữ ký của thầy lên sao?”
Anh nhìn bàn tay đang giữ giấy. Thầy đã chỉ anh cách đặt vỏ, sửa nhịp và cho mượn dụng cụ qua nhiều năm. Anh không muốn biến ông thành người đổ lỗi cho một thợ kho, càng không thể nói lịch ấy không liên quan chỉ để hai người còn ngồi chung bàn dễ chịu.
Tầm xin công khai với những người dự ca thử và khách mua phần lịch có liên quan đến lượng, thời gian chờ và quyết định ghép mẻ. Không phát cả sổ xưởng ra ngoài, nhưng kết quả không được tách khỏi cách đã chạy. Người thợ nhận lỗi bạt cũng phải có mặt đọc phần của mình.
Thầy đẩy ghế lùi ra, nói anh đang nhận việc quá sức. Chủ xưởng giữ ông lại bằng câu hỏi nếu không thử thì đơn nhỏ cũng mất. Sau một lúc, ông chủ nhận giữ công đã làm của người thợ, chưa đuổi trong lúc đối; việc bạt sẽ ghi vào trách nhiệm kho sau khi có kết quả. Ông chịu cho khách xem phần lịch cần thiết khi bàn mẻ đối chứng, với tên người quyết định giữ nguyên.
Người thợ ký sau cùng. Tầm đưa anh ta một bản, nói nếu nhớ thêm thì bổ sung có ngày, không sửa trắng phần đã kể. Anh ta cất giấy trong áo, đi rất chậm qua cửa, như chưa tin mình vẫn được về đúng chỗ làm.
Chiều ấy Trần Sách không tới xem bài luyện. Tầm tập một lượt đã thuộc, dừng đúng số rồi tự thu dụng cụ. Khi sang bàn tính mẻ, anh thấy thầy vẫn để cho mình tờ định mức, nhưng chiếc ghế cạnh bàn đã kéo xa hơn. Anh đặt giấy nguồn vào giữa khoảng trống ấy, chờ người chủ tới bàn phần giá mà chưa ai muốn trả.
Người quản kho đưa bạt rách tới, cho biết đã đổi khỏi mái chứa. Tầm ghi việc sửa ấy vào phần hiện tại, giữ riêng với lời khai ngày mưa. Cát còn giữ trong thùng vẫn chưa được trả vào ca thấp, dù mái phía trên đã khô.