Ngày thứ ba mươi ba, Tầm đi cùng người quản vật tư tới kho nguyên liệu phía sau lò. Ca thấp giữ đúng bảng hôm qua, người vận hành không nhận mẻ bù. Những người thừa việc ngồi sửa đồ hoặc về nhận việc ngoài; tiếng búa bàn sửa nghe rõ hơn tiếng máy.
Tầm đem theo lịch đã dựng và hỏi phần cát còn lại từ hai ca. Người quản kho chỉ dãy thùng có nắp, bảo hàng đã nhập rồi xuất nhiều lần. Nếu muốn biết thùng nào dùng cho mẻ lớn, phải đối phiếu và hỏi người đong, không thể lấy hai thùng gần cửa cho tiện.
Họ tìm được một thùng còn phần nguyên liệu của ca đã làm hàng tốt, một thùng giữ phần đáy từ ca sau. Nhãn có ngày nhận, người quản kho xác nhận dòng cấp nhưng không chịu cho xúc. Mỗi lần có người lấy một bát, tới lúc cân thiếu lại trừ vào người giữ kho.
Tầm đưa giấy nhận khám. Ông xem rồi trả lại, nói giấy cho đối mẫu phụ kiện có giám, chưa phải quyền mang nguyên liệu đi. Chủ xưởng đang giữ từng phần cát, anh cần ông ấy cho riêng. Trên sân, một chiếc xe đẩy lệch bánh kêu cộc mỗi lần qua khe gạch.
Người quản kho nhìn theo xe, bực bảo đã xin sửa ba ngày. Thợ rảnh mà ai cũng chờ việc có tiền riêng, phần kho vẫn phải đẩy chiếc ấy. Tầm cúi xem trục, phát hiện ống lót mòn lệch và chốt đầu đã bị gõ bẹt.
Anh nhận sửa xe trong giờ không theo máy, xin đổi phần công ấy lấy hai mẫu có cân và nhãn, giá trị ghi để chủ xưởng duyệt. Người quản kho đi hỏi, trở lại với một dòng cho lấy mẫu nhỏ tại chỗ; nguyên liệu dư sau phép thử vẫn phải trả hoặc ghi hao. Không ai mở cho anh cả dãy thùng.
Buổi trưa, Tầm tháo bánh trên nền phẳng, kê xe để người kho vẫn dùng chiếc còn lại. Anh giữ lại chốt cũ làm cỡ, sửa đầu trục và thay ống lót từ phần phôi xưởng đồng ý cấp cho việc xe. Phần phôi ấy tính vào sửa kho, không lén ghi thành vật tư thử miễn phí của anh.
Đến chiều, xe đi qua khe gạch không còn nghiêng. Người quản kho nhận việc, cùng anh cân hai phần mẫu. Tầm ghi thùng, độ sâu lấy và người chứng. Anh lấy cả phần gần trên lẫn phần đáy, để Nghi có thể biết một mẫu đại diện cho đâu thay vì gọi tất cả là cát từ ca lỗi.
Khi đưa hai bát ra nắng, màu chúng gần như nhau. Tầm rây một ít lên giấy sẫm, thấy hạt lớn nhỏ có khác nhưng không đủ để đoán nguyên nhân. Người quản kho nói tro ra cũng cùng màu, trước giờ ai nhìn được bằng mắt rằng lò sẽ rạn đâu.
Tầm đã chờ một khác biệt rõ đến mức chỉ cần chỉ ngón tay. Anh ngồi thêm một lúc, nhớ chính mình từng nghĩ dấu lô là đường đi ngắn. Nếu lấy màu tro làm kết luận, anh chỉ đổi một thứ dễ thấy lấy thứ dễ thấy khác.
Anh xin tro còn lưu từ lần làm hàng tốt và phần dọn dưới máy sau mẻ lớn. Người giữ lò đưa hai gói, nhắc gói sau lẫn bụi nền. Anh ghi tạp ấy, không đem nó so như hai thứ sạch ngang nhau. Tro cũng không cho đường khác biệt chắc chắn; mép giấy sẫm đi vì bụi nhưng câu hỏi vẫn còn.
Nghi trở lại bàn lúc anh đang gấp nhãn. Cô xem nguồn mẫu, hỏi có cần biết ngay bát nào thuộc ca nào khi đo không. Tầm nghĩ một lát rồi đưa cô tờ mã đã sao, nhờ người quản vật tư giữ phần đối chiếu trong phong giấy.
Họ đổi tên trên các lọ thành những số ngắn, tránh để người đo chờ sẵn mẫu ca lỗi phải xấu hơn. Tầm không nếm thử, không ghé mắt đoán thứ bên trong. Anh giúp làm sạch dụng cụ, chừa một phần mỗi mẫu nguyên trạng để nếu phép đầu sai còn có thứ kiểm lại.
Phép đo độ ngưng dẫn cần dụng cụ ổn định và vài lượt chờ. Nghi chỉ cho anh chỗ phải giữ cùng lượng, cùng cách nén, không dùng ngọn lửa lớn nhỏ tùy tay. Họ đặt lịch làm trong những ngày tới, xen với ca thấp và việc sửa có công. Chưa có số nào đủ để báo khách nguyên nhân đã tìm ra.
Tối ấy, người quản kho đem giấy nhận xe tới ký trả phần công. Tầm giữ nó cạnh phiếu lấy mẫu, thấy cả buổi sửa chỉ đổi được mấy lọ cát nhỏ. Anh vẫn ký. Lần này những thứ nằm trên bàn có nguồn, có lượng và có người kiểm lại được, dù nhìn ngoài chúng chẳng khác mấy thứ anh có thể xúc miễn phí dưới chân lò.
Mấy ngày sau, anh vẫn trở lại kho cùng người giữ chìa để đối những chỗ còn thiếu. Có phiếu chỉ ghi lượng tổng, không nối được tới thùng nào; phần ấy được gác riêng. Người quản kho thôi giục anh chọn đại một mẫu cho đủ cặp, nhưng lần nào đóng cửa cũng đếm lại số lọ anh mang ra.