Khách mua tới bàn khám đầu giờ chiều, mang theo một tờ đơn đã nhàu ở nếp gấp. Ông nghe chuyện van không sai, hỏi vậy bao giờ được nhóm lò. Ngoài sân, xe của ông chờ từ hôm qua, người đánh xe đang tìm chỗ vá một quai buộc bị sờn.
Tầm chưa gặp ông trong bữa bàn giữ dừng. Người này vừa từ bến trở lại, đã trả tiền giữ chỗ cho chuyến đi tiếp. Ông nhìn hai bộ vỏ nằm riêng, vẻ mặt không giống người có thể nhận thêm một câu xin đợi.
“Phía ngoài núi cần đồ trước kỳ thú về. Chậm một chuyến của các anh, họ phải lấy gì thay?”
Chủ xưởng kéo ghế, định hẹn ngày giao sau khi thay vỏ. Tầm xin đừng chốt mẻ lớn lúc chưa có số đo. Người khách quay sang anh, hỏi anh có chịu nổi tiền phạt thay xưởng không.
Anh đáp không. Khoản công khám chưa nhận còn đang bị trừ giờ tháo, anh không có vốn ôm một đơn hàng. Nhưng nếu hẹn liều rồi dụng cụ hỏng ở nơi dùng, giấy phạt cũng không làm chúng dùng lại được.
Nghi mang nước tới, đặt tờ lịch đã dựng lên bàn rồi trở về kiểm máy đo. Tầm chỉ những mẻ lớn sau thời gian nguyên liệu dồn, nói họ mới biết vết rạn được phát hiện sau những mẻ ấy, chưa biết đủ để sửa. Anh xin được xem đơn, hỏi phần nào cần lắp ngay, phần nào vẫn đang có món cũ dùng tạm.
Người khách không đưa ngay. Ông bảo tất cả đã đặt đều có người trả tiền. Tầm kéo chiếc ghế thấp lại, nhờ ông chỉ nơi mỗi món sẽ tới. Anh không có ý định đòi khách bỏ đơn bằng một lời phân biệt hàng tốt hay xấu; anh cần biết thứ tự để lò có cách làm nhỏ mà vẫn giao được việc thật.
Đơn gồm miếng dẫn cho giá chắn, chốt thay ở cửa rào, dụng cụ sửa, cùng một số bộ ốp có hoa văn cho nhà giữ trạm. Người khách gõ lên dòng miếng dẫn. Giá chắn có bộ cũ dùng hết mùa trước, hai đoạn đã yếu. Phần chốt có thể lấy món đang còn tốt thay trước; bộ ốp thì chưa lắp cũng không khiến cửa rào bỏ trống.
“Nhưng tiền lãi nằm ở mấy bộ ốp ấy,” chủ xưởng nói.
Ông kéo tờ tính của mình ra. Hàng gấp không trả hết nhiên liệu, phần lời của món trang trí bù công giữ thợ. Bỏ hết phần sau, xưởng có thể giao được hàng mà không còn tiền làm tiếp. Tầm nhìn những dòng giá, không còn thấy việc chia đơn nhẹ như lúc mới hỏi.
Anh đề nghị trước hết giảm lượng cùng vào một mẻ, làm thử phần miếng dẫn và chốt cần ngay. Các món khác chưa hủy, nhưng không xếp chung để lấy cớ đẩy lò lên mức lớn. Khi thử có kết quả, họ mới ngồi tính lại lượng giữ và lượng trả. Công kiểm phải tách khỏi tiền món đạt, để người khám không chỉ có công khi tất cả đều được bán.
Chủ xưởng lắc đầu với phần công thêm. Người khách lại hỏi ai chứng thử, vì ông đã trả cho hàng đúng hẹn, không mua lời kể một thợ trẻ. Tầm mời ông hoặc người được ông cử đứng xem, được xem cả mẫu không đạt và cách chọn mẫu. Nghi có thể giữ số đo, nhưng không lấy quyền ký đang bị treo làm giấy bảo đảm.
“Ta chọn món chứ?” khách hỏi.
“Trong phần đã ghi nguồn và cách ly, ông chọn. Còn phép thử phải chốt trước, không vì món của ai đẹp mà đổi mức.”
Khách ngồi im, ngón tay miết nếp giấy. Ông cần về báo đầu nhận một lần, nếu mỗi ngày lại hứa khác thì không ai để chuyến xe chờ mãi. Sau cùng ông nhận giữ chỗ cho một đợt ít món thiết yếu, với điều kiện xem thử trước khi đồng ý lịch giao. Phần hàng còn lại được bàn riêng sau kết quả, chưa có lời xóa phạt.
Tầm chép từng dòng đã thống nhất. Anh xin cả giới hạn thời gian người chứng có thể ở, rồi đưa chủ xưởng đọc. Ông chủ chịu cho dùng máy tách nhỏ vào cuối chiều nếu trước ca có ngưỡng và người giữ ngắt. Mẻ lớn vẫn nằm ngoài phần được phép; nguyên liệu chưa đưa trở lại sân cấp.
Khách giữ bản giấy, đứng dậy xem xe. Tầm theo ra giúp anh đánh xe đưa quai buộc qua đầu móc mới. Trong thùng có những đoạn chắn cũ mang về làm mẫu cỡ, mép đã mòn bởi nhiều lần tháo lắp. Chúng khiến nhu cầu ở ngoài núi có hình dạng rõ hơn tờ đơn trên bàn.
Trở vào, anh thấy thầy còn ngồi trước tờ tính lời. Trần Sách hỏi thợ làm gì trong lúc chờ một đợt nhỏ, ai trả tiền những người không có tên trên bàn thử. Tầm chưa có câu trả lời đủ cho cả xưởng. Anh đặt đơn vừa chia cạnh lịch ca, xin ngay buổi này bàn trước phần có thể chạy thấp và phần sửa hàng dùng tay. Thầy kéo đèn lại gần, để anh ngồi xuống chỗ còn trống.