Cuối buổi sáng ngày thứ ba mươi hai, người quản vật tư đưa van lò đã tháo khỏi đường nghỉ lên bàn. Người vận hành chứng đường cấp khóa, kiểm hết phần áp còn lại rồi mới cho mở. Bên cạnh là tờ nhận đối mẫu của xưởng, còn hòm riêng của Tầm vẫn đóng.
Chủ xưởng gọi một người chạy giấy tới chờ. Ông đã chuẩn bị thư gửi nhà cung ứng, muốn kèm lời xác nhận van cùng lô làm hỏng lò. Nếu có kết quả trước khi xe chiều rời bến, ông sẽ ứng tiền cho người giữ mẫu và đi đòi bồi thường.
“Kho từng bị rồi, ở đây lại đúng dấu ấy,” ông nói. “Không bắt họ chịu thì ta gánh hết sao?”
Tầm xin xem xong mới trả lời. Khoản ứng đủ giúp anh trả thêm một phần nợ, nhưng trong phiếu nhận khám không có khoản ấy. Anh không thể coi nó là tiền mình đã kiếm được.
Anh mở hòm, đặt gói vải niêm lên khăn sạch. Nghi đối lại nét mực và chỗ nút, đọc giấy chuyển từ chủ kho. Người quản vật tư xác nhận trước mặt họ rồi mới để Tầm tháo dây. Ruột van sai ở kho vẫn có vệt mòn lệch, dấu lô nằm bên phần không bị cọ. Thân van kho đã sửa đang ở Dốc Sậy, không có mặt trên bàn này.
Tầm để hai cụm ruột cách nhau một khoảng, đánh giấy phân biệt trước khi lấy que thử. Với mẫu kho, que thuận mắc ở cùng chỗ cũ; khi đối chiều, đường đi mở. Nghi giữ bản vẽ từ lần khám kho, hỏi người quản vật tư có thấy đúng mặt đang đối không. Ông cúi xuống xem, chỉ dấu khuyết rồi nhận.
Đến van lò, que đi qua theo chiều mũi khắc. Tầm thay que đã đo cỡ, kiểm lại hai vị trí ghép để tránh lẫn một lỗ rộng hơn thành lắp đúng. Trần Sách tự cầm cụm van, soi chỗ chặn, sau đó đặt xuống mà không nói.
Chủ xưởng bảo có thể van chỉ sai khi nóng. Tầm ghi ý ấy vào phần cần thử, nhưng tách nó khỏi kết quả vừa thấy. Cách lắp ở lò không giống mẫu sai tại kho. Muốn nói có lỗi khi nóng, họ phải có phép đo khác, không được ghi mẫu này lắp ngược chỉ vì cùng dấu.
Nghi cho chạy thử đường hồi bằng phần dụng cụ tách riêng, không nối máy lò. Người vận hành giữ phần cấp nhỏ, dừng trước mỗi lần đổi cỡ. Dòng đi và kim áp phù hợp chiều đã kiểm, không xuất hiện chỗ nghẽn của ruột kho. Họ ghi cả mức thử, chưa dùng nó để chứng van chịu mọi mức nóng trong mẻ lớn.
Tầm đặt hai bản ghi cạnh bức thư chờ gửi.
“Van lò đang lắp đúng. Mẫu kho sai là thật, nhưng chưa có bằng chứng nó gây rạn ở đây.”
Chủ xưởng nhìn người chạy giấy rồi kéo thư về. Ông hỏi anh có muốn nhà cung ứng giữ hết tiền không. Tầm đáp xưởng vẫn có thể hỏi truy xuất lô, yêu cầu giấy và kiểm phần đã mua. Anh chỉ không xác nhận một điều vừa kiểm ra ngược lại.
“Thế khoản ứng cho cậu đi kiện cũng thôi.”
“Vâng.”
Nói xong, anh cúi gói mẫu kho. Nút vải bị mở phải niêm lại, ghi giờ và người chứng mới, không giả như cả buổi chưa ai chạm vào. Nghi đưa giấy cho người quản vật tư ký, Tầm giữ một bản cùng giấy chuyển cũ. Chủ xưởng nhìn các chữ ký, vẻ bực vẫn chưa hết.
Lúc thợ trở vào lấy đồ, ông bảo họ chờ Tầm nói kết quả. Anh hơi bất ngờ. Có lẽ người chủ muốn chính miệng người khám chịu câu trả lời này, thay vì để hôm sau người ta bảo ông đã không chịu đòi quyền lợi cho xưởng.
Tầm nói rõ van kho lắp ngược, van ở lò vừa mở không lắp ngược. Hai món có cùng dấu lô, còn giấy cung ứng cần đối tiếp; hiện không thể lấy lỗi của món này thay cho nguyên nhân rạn vỏ kia. Người thợ ca phụ hỏi vậy giờ tới lượt họ chịu à.
“Chưa tìm được lỗi van không có nghĩa đã tìm được lỗi của anh,” Tầm đáp. “Lịch sáng nay vẫn giữ. Mình còn phải so mẻ và nguyên liệu.”
Người ấy nhìn sang chủ xưởng, đợi ông gật đầu mới đi. Tầm cất hòm dưới bàn, lòng không nhẹ như khi nói trước mọi người. Không có khoản ứng, giờ hỏi công thêm lại ăn vào phần khám chưa nhận. Anh lấy sổ nợ ra, giữ nguyên những dòng định trả, không gạch chúng vì một lời hứa vừa mất.
Trần Sách tới cạnh anh lúc bàn chỉ còn chiếc van lò.
“Con có thể nói chờ thử thêm.”
“Phần chưa thử con đã ghi chờ. Phần lắp đúng thì phải nói đúng.”
Thầy cầm chiếc khăn lau tay, xếp nó lại chậm rãi. Ông không cãi nữa, bảo van phải được trả người vận hành theo giấy, chưa tự lắp vào máy đang dừng. Tầm nhận việc ấy, nâng khay đi khỏi bàn. Dấu lô vẫn ở đó, rõ như lúc mới mở, nhưng nó không còn cho anh một lối kiếm tiền dễ dàng ra khỏi vụ lò này.