Nghi tới lò khi trời đã tối. Cô nhận giấy ở Dốc Sậy đầu chiều, bàn giao phần đối soát đường rồi đi nhờ xe trả sọt. Tầm đỡ túi máy xuống, thấy ở quai còn một vệt bụi đường ẩm. Cô hỏi ngay lò đã chạy lại chưa.
“Chưa. Mẻ lớn vẫn giữ dừng. Vỏ cũ tháo ra rồi.”
Anh đưa cô tới xem hiện vật, chỉ đường rạn và các miếng đệm đã xếp riêng. Nghi không mở máy đo lúc ấy. Cô hỏi sổ ca ở đâu, chủ xưởng cho họ xem tới phần nào. Tầm đưa phiếu khám, dẫn cô tới người giữ sổ đang chờ bàn giao cho ca giữ dừng ban đêm.
Sổ ghi hai ca một ngày. Phiếu nguyên liệu lại có những lần nhận ở giữa hai ca ấy, lượng trả ra không khớp số mẻ. Người ghi giải thích rằng có hàng tới trễ nên thợ nhận vào, chưa dùng ngay. Nghi đặt từng tờ theo ngày, hỏi ai chứng phần chưa dùng còn ở kho.
Người ấy không trả lời được. Ông chỉ ghi số chủ xưởng đưa, không đứng canh từng sọt. Tầm nhớ những chuyến đã dồn ở sân nhận, tưởng như chỉ cần tìm một người điền thiếu. Nhưng người thợ thay dây treo buổi sáng nghe đến ngày thứ hai mươi hai thì nói hôm đó chính mình vào lò sau bữa tối.
“Trong sổ không có ca ấy,” Tầm nói.
“Vì tôi làm nốt việc người khác. Đầu ca đâu có tên tôi.”
Anh ta chỉ trang sau. Người được ghi tên đã về đón con, còn người đứng máy đổi cho một thợ đau tay. Nguyên liệu chậm tới, chủ xưởng yêu cầu gộp phần để kịp xe lấy hàng. Không ai gọi đó là một ca mới. Mỗi người chỉ nhớ vài giờ của mình.
Tầm lấy tờ giấy trắng, định chép tên người đứng ở từng phần. Người thợ chặn bút lại, hỏi viết để tính công hay để trừ công. Vừa sáng nay đã có người bảo ca phụ làm hỏng vỏ thì những người ca phụ phải chịu.
Nghi khép sổ nguyên liệu. Cô bảo Tầm mời chủ xưởng tới, không hứa thay người trả tiền. Lúc chờ, anh đem nước cho người thợ, hỏi giờ về của anh ta. Người ấy cần xuống bếp trước khi hết phần cơm, không thể ngồi khai cả đêm.
Chủ xưởng tới sau khi xem hàng chờ. Ông muốn có danh sách ngay, nói người ngay không sợ ghi tên. Tầm đặt bút xuống. Anh đã từng giấu một số sai vì sợ mất việc; câu ấy không khiến anh yên tâm hơn cho người đang ngồi đối diện.
“Nếu cứ nói ca ngoài sổ không có công, chẳng ai nhớ giúp mình được,” anh nói. “Xin giữ nguyên công họ đã làm. Lịch dựng lại để xem máy đã nhận gì, chưa phải tờ kết tội.”
“Vậy ai trả những giờ họ ngồi đây?”
Tầm xin ghép phần hỏi vào giờ bàn giao, người nào phải ở thêm thì ghi riêng. Anh chịu trừ vào công khám của mình trước, nhưng cần chủ xưởng xác nhận không vì khai thêm ca mà cắt tiền cũ. Nghi cũng nói rõ cô chỉ giữ bản ghi, không ký xác nhận an toàn hay bảo lãnh khoản công vô hạn.
Cuối cùng chủ xưởng đồng ý cho hỏi từng người trong buổi đổi ca sáng mai, công cũ giữ nguyên cho tới khi đối xong. Nếu có tranh chấp, phải đưa ra sổ và người chứng, không tự trừ ngay lúc phát tiền. Ông ký một dòng dưới giấy, nhắc tiền khám của Tầm chưa biết có đủ bù hay không.
Sáng ngày thứ ba mươi hai, họ đặt bàn gần bếp, để người hết việc kể rồi đi. Nghi chia giấy theo mẻ, Tầm dùng tiếng xe nguyên liệu, bữa cơm và lượt đổi người để nối các khoảng. Có người nhớ mình đổ thêm cát, người khác nhớ phải chờ máy nguội lâu hơn. Một khoảng không khớp được giữ trống, không lấy trí nhớ người nói sau đè lên người nói trước.
Tới giữa buổi, hai mẻ lớn hiện ra sau những ngày nguyên liệu về dồn. Ca nhỏ trước đó chưa ai báo vỏ rạn; sau mẻ lớn thứ hai, người lau máy thấy vệt sẫm ở chân nhưng tưởng bụi. Tầm hỏi anh ta có chắc hôm ấy chưa có rạn không. Anh ta lắc đầu, chỉ chắc mình chưa soi kỹ.
Nghi gạch chữ không rạn mà Tầm vừa viết, thay bằng chưa ghi nhận. Anh nhìn lại rồi gật đầu. Họ có trình tự rõ hơn, chưa có cái mốc sạch sẽ mà anh mong.
Trần Sách đứng đọc một lúc lâu. Ông hỏi sao không đối van trước cho nhanh, hàng cùng dấu lô đã tới đây rồi. Tầm đáp lát nữa sẽ đối, nhưng giữ nguyên cả lịch vừa dựng. Dù van thế nào, máy đã chạy thêm những giờ chưa có trong sổ.
Người thợ ca phụ quay lại lấy bản ghi công. Tầm đưa giấy có chữ chủ xưởng, giữ bản sao trong phiếu khám của mình. Tới khi người ấy yên tâm đi, anh mới nhận ra nghĩa vụ vừa nhận không nằm ở cái vỏ. Những dòng khai chỉ còn dùng được nếu đến ngày lĩnh tiền, họ không phải trả giá vì đã kể thật cho anh nghe.