Sáng ngày thứ sáu mươi mốt, người quản vật tư mở phong giấy mã trước mặt Tầm và Nghi. Các lượt đo đã lặp đủ ở cùng lượng và cách nén. Một nhóm mẫu giữ độ ngưng dẫn lâu hơn, nhưng không phải cứ lấy từ ca bị gọi lỗi là cùng một kết quả.
Tầm đối từng số với nguồn. Phần gần trên thùng sau còn gần nhóm ca tốt; phần đáy khác rõ hơn. Anh trở lại kho cùng người giữ chìa, hỏi thùng ấy từ lúc nhập đã nằm đâu. Người quản kho chỉ vệt gỗ kê ở góc mái, không nhớ chính xác bao nhiêu lần mở nắp khi trời mưa.
Họ lấy thêm một phần nhỏ dưới đáy có cân và người chứng, cùng phần gần trên. Lần này Tầm xem đáy thùng trước, thấy chỗ nối ván sẫm hơn. Anh bóp một ít qua giấy thấm, không lấy cảm giác dính tay làm số đo. Nghi ghi khối lượng trước và sau một lượt làm khô nhỏ đã thống nhất.
Phần đáy giảm nhiều hơn. Dụng cụ dẫn trên bàn cũng giữ ở trạng thái ngưng lâu hơn khi dùng nó, trong khi mẫu được làm khô có cách đáp khác. Người quản kho nhìn cả hai, bảo nếu là ẩm thì nung một lúc sẽ bay hết. Lò nóng hơn bàn thử nhiều, không thể cứ đem chuyện nước ở đáy thùng nói thành lý do rạn vỏ.
Tầm thấy ông nói đúng một phần. Kết quả trên giấy mới cho biết mẫu khác nhau và làm khô có đổi đáp, chưa chứng nước làm nứt máy. Anh xin dùng cùng một mẫu chia đôi, để một phần như cũ và làm khô phần kia, giữ cùng lượng nạp thay vì lấy hai thùng khác nguồn rồi kết ngay.
Chủ xưởng nghe xong, hỏi cần bao nhiêu cát. Tầm đưa mức nhỏ và phần hao, ghi rõ không cấp vào lò thật trong lượt này. Thầy xem dụng cụ, cho dùng bệ thử tách riêng của bàn máy, có ngắt và tấm che. Người vận hành kiểm đường hồi trước khi nhận ca. Không ai phải đứng sát mẫu để nhìn bằng mắt xem nó có sủi không.
Họ ghi trước cách giữ nhiệt và khoảng chờ, để người làm không tự tăng khi thấy kim chậm. Nghi đổi mã hai phần, người quản vật tư giữ bản đối. Tầm cầm cơ cấu cấp, lần này cổ tay không phải ghìm cứng; anh vẫn báo nghỉ giữa lượt, không cố làm cả buổi bằng sức mới.
Phần chưa làm khô ngưng dẫn rõ trong khoảng tăng, rồi đáp lại không đều. Phần đã làm khô ổn hơn ở cùng mức nhỏ. Nghi cho chạy lại sau khi bàn về trạng thái ban đầu, không đặt mẫu thứ hai lên một bệ còn nóng mà gọi đó là so ngang nhau.
Tầm đứng đợi nhiệt xuống, nghe phía ngoài tổ sửa đang trả một xe đồ cũ. Mấy tuần qua xưởng sống bằng những chuyến nhỏ như thế. Nếu nguyên liệu có thể sửa được bằng sấy, ít nhất họ không phải bỏ hết cát đang giữ, nhưng anh nén câu ấy lại. Sấy cũng cần giờ và nhiên liệu, chưa biết phần khác còn giữ lỗi gì.
Đến cuối ngày thứ sáu mươi hai, phép nhỏ lặp được hướng chênh ấy. Tầm đưa cả lượt ít rõ hơn cho chủ xưởng, nói mẫu đáy giữ ẩm có liên quan đến ngưng dẫn trên bệ; chưa đo ứng suất ở lò và chưa biết mức đó đủ làm vỏ rạn hay không. Anh không đề nghị khách tới lấy hàng ngay.
“Thế còn bao lâu?” ông chủ hỏi.
Tầm chỉ hai chỗ chưa có số: cách đưa lượng lớn qua cùng khoảng nóng và phần lực dồn khi dẫn ngưng. Anh cần một cặp mẻ đối chứng, giữ các thứ khác đủ giống nhau, có quyền dừng trước khi hư máy. Chủ xưởng không chịu hứa ngay, bảo anh tính hao rồi tới bàn lại.
Người quản kho cầm bản nguồn mẫu đứng cạnh cửa. Ông hỏi có phải phần kho nhận cát ướt phải đền toàn bộ những tuần ngừng. Tầm trả lời chưa có kết luận ấy. Họ còn lịch dồn mẻ, cách giữ hàng và cách xưởng chấp nhận chạy; phép thử nhỏ không định được tiền trách nhiệm của từng người.
Anh nhờ ông giữ nguyên phần thùng còn lại, đánh dấu phần đã lấy, không trộn nó sang thùng khô cho khỏi bị nói. Người quản kho im lặng rồi tự lấy dây buộc nắp, gọi người chứng giúp.
Trở về bàn, Tầm viết dòng cần đối ở lò dưới các kết quả. Lần đầu từ ngày tháo vỏ, anh có một thay đổi khiến phép đo cũng thay theo, không chỉ những nét rạn giống nhau. Anh gấp giấy, đem cùng thầy tính phần nguyên liệu phải chấp nhận mất để biết nó có thật sự cứu được một mẻ hàng hay không.
Thầy lấy tờ định mức cũ, bắt anh tính cả công chờ và phần làm lại nếu phải hủy lượt. Tầm cộng xong mới thấy giá hai mẻ không nằm riêng ở hai khay cát. Anh để nguyên con số, mang về hỏi từng người giữ vị trí trước khi xin xưởng. Một lời đồng ý chỉ có nghĩa khi người nhận biết mình sẽ phải ở lại bao lâu.