Tạ Duy vừa buộc xong chiếc phao cuối thì có người gọi từ trên bờ. Anh ngẩng lên, thấy một đứa trẻ đứng cạnh cọc buộc thuyền, hai ống quần xắn lệch. Nó định bước xuống bậc đá nhưng rụt chân lại khi nước tràn qua dép.
“Anh sửa đèn phải không?”
“Đèn nào hỏng?”
“Không phải. Ông em chưa về.”
Duy đặt móc sắt xuống lòng thuyền. Phía sau đứa trẻ, mái miếu Bến Sậy đã chìm trong màu chiều; chỉ còn mấy cạnh ngói hắt sáng. Từ đây sang Cồn Vạc, lúc nước ròng có thể đi bộ theo doi bùn. Bây giờ doi ấy chỉ còn những chỗ nhô lên rời rạc.
Nó bảo ông sang cồn gỡ lưới từ trưa. Người cùng bãi về hết, riêng ông đau chân nên đi chậm. Nó đã chờ ở lối xuống bến đến khi không còn nhìn thấy cọc ngoài cùng.
“Có ai ra tìm chưa?” Duy hỏi.
“Mẹ em đi gọi thuyền. Em chạy sang miếu. Người ta bảo anh ở đây.”
Bên kia bến, chủ chuyến vớt hàng giơ tay giục. Một sọt vòng sắt đã được chuyển xuống chiếc thuyền lớn. Đêm nay họ phải mò mấy kiện hàng rơi ở chân cầu cũ, nước vừa đứng mới dễ làm. Duy đã nhận một chân lặn. Tiền công đủ mua dầu và trả nốt khoản kính Miên đang nợ cửa hiệu.
Anh nhìn chiếc phao mình vừa đặt. Suốt buổi chiều, anh dò đoạn từ bậc đá tới mép doi bằng sào, đánh dấu chỗ cọc gãy rồi kéo dây phao tránh sang phía trong. Chiếc đèn dẫn luồng cũ được anh chèn ở chân cọc, còn chưa lấy tiền sửa.
“Ông em thường về lối nào?”
Đứa trẻ chỉ đúng doi bùn có hàng phao ấy. Duy hỏi thêm chỗ ông thả lưới và màu áo. Nó trả lời được, rồi vội níu mép áo anh.
“Anh đưa ông em về trước sáng được không? Ông không chịu lạnh lâu.”
Duy đã định bảo nó đứng chờ người lớn. Lời ấy lên tới miệng rồi dừng. Anh nhớ những đêm mình đứng nhìn thuyền trở về, đếm đi đếm lại mà không thấy thuyền cha. Ba năm rồi, ở bến này, anh vẫn nhìn người bước lên trước khi nhìn hàng họ mang theo.
Anh gỡ bàn tay đứa trẻ khỏi áo mình, bảo nó vịn vào cây cọc khô bên cạnh.
“Anh nhận đưa ông em từ Cồn Vạc về bến này trước sáng. Em ở đây chờ mẹ, đừng tự xuống nước.”
Một tiếng tách rất nhỏ vang lên sau lưng anh.
Duy quay lại. Ngọn lửa trong chiếc đèn dẫn luồng vừa đứng thẳng. Trước đó gió vẫn ép lửa về một phía, làm kính ám muội. Bây giờ ánh sáng bám dọc sợi dây phao, xuống tới mảng nước nơi anh đã gạt bỏ cây sậy gãy. Từng nút dây nổi rõ, kể cả nút nằm sau chiếc phao vốn khuất trong bóng cọc.
Anh lấy bàn tay che kính. Ánh sáng trên dây nhạt đi nhưng không mất hẳn. Duy rút tay, tim đập nhanh đến khó chịu.
“Ông Bách!” anh gọi.
Thôi Bách đang thu chiếu ở hiên miếu. Ông bước xuống, tay còn cầm cuộn dây buộc cửa. Duy chỉ đèn, chưa kịp hỏi thì ông đã cúi xem chân cọc, rồi nhìn chiếc phao mới thả.
“Cậu vừa nhận việc gì?” ông hỏi.
Duy kể ngắn. Bách nghe xong, đặt cuộn dây lên bậc đá.
“Đừng rời cái đèn ra khỏi chỗ đã đặt. Cậu biết đến đâu thì dẫn đến đó. Chưa biết thì phải tự xem.”
“Đây là phép?”
“Có ánh như thế rồi, cậu còn muốn gọi là gì?” Bách đáp. “Nhưng đèn vẫn cháy bằng dầu. Mang đủ dầu theo.”
Chủ chuyến vớt đi tới, đôi guốc nện gấp trên đá. Nghe Duy xin bỏ chuyến, ông ta bực ra mặt.
“Cậu nhận từ sáng. Bây giờ tôi kiếm người lặn ở đâu?”
“Tôi biết. Phần công tôi không lấy. Cái móc đôi ở đây, ông cứ dùng đêm nay.”
“Dùng móc thay người được chắc?”
Duy không cãi. Anh đưa móc sang rồi kéo thuyền con sát bậc. Người chủ đứng thêm một lúc, cuối cùng quay đi gọi người khác. Tiếng ông ta càu nhàu còn vọng giữa những mái thuyền.
Duy kiểm túi dụng cụ: kìm, dao cắt bấc, một đoạn dây gai và chiếc đèn tay. Anh nhấc can dầu nhỏ, thấy nhẹ quá, bèn xin Bách cho mua chịu thêm. Ông già đem ra một chai, không nói chuyện tiền ngay, chỉ bắt anh đậy nút thật chặt.
Đứa trẻ chạy theo tới bậc cuối.
“Em đi cùng được không? Em biết ông.”
“Em đứng đây thì ông về mới có người đón.”
Nó chịu dừng, nhưng vẫn nhìn tới khi anh chống thuyền khỏi cọc. Bách nhận giữ đèn ở bến, còn Duy kéo nhẹ dây thử lần cuối. Chân cọc không xê dịch. Hàng phao nổi lên thành một lối hẹp giữa nước sẫm.
Đến chiếc phao cuối, ánh sáng dừng lại.
Ngoài đó, Cồn Vạc chỉ còn là một vệt đen thấp. Duy chống sào xuống; đầu sào trượt khỏi bùn, hụt hẳn. Anh thu lại, nghe nước vỗ vào mạn. Đường anh biết đã hết, mà người anh nhận đưa về còn ở phía trước.