Ôn Nhạc tới miếu lúc Duy đang cạo bùn trên thước. Ông mặc áo sẫm, giày khô, theo sau là người đã đem hai khung đèn tới sửa. Người ấy từng nhận hai chiếc đèn ở đây, nay mang một chiếc theo làm mẫu. Anh ta dọn một góc bàn, đặt đèn cùng bình trà mang theo xuống.
Duy lau tay, mời khách ngồi. Nhạc xem mặt kính chiếc đèn mang theo, xoay thử chốt cửa. Ông không chê lớp thiếc hàn hơi lộ ở cạnh dưới, chỉ hỏi nếu đặt mười chiếc thì bao lâu xong.
“Còn tùy kính và khung,” Duy đáp. “Tôi phải xem đồ trước.”
“Tôi có người chở. Thứ gì mua được thì đỡ phải lo.”
Nhạc nhìn chiếc phao mới bên cửa, hỏi bến ngoài đã mở chưa. Duy nói chưa, chỗ cọc dự tính bị xói. Ông gật đầu như đã biết. Qua cửa hiên, bến Liên thuyền phía trên hiện thành một dải gỗ thẳng, có kho chống mưa và cột buộc đủ lớn cho thuyền hàng.
Ông mời Duy sang xem chỗ đặt đèn. Người lái đưa họ qua vào lúc mặt trời chưa đứng bóng. Sàn bến chắc dưới chân, không phải bước qua những tấm ván kê tạm như Bến Sậy. Một hốc trụ bỏ không nằm ngay góc ngoài; từ đó nhìn thấy cả cọc rẽ lẫn cửa kho, vừa có mái che dầu.
Duy đặt tay lên chân trụ. Đá ăn sâu, mạch ghép không hở. Nếu được dùng, anh có thể dành khoản mua cọc cho việc sửa neo, khỏi lo mỗi trận mưa bờ lại mất thêm một mảng. Nhạc đứng cạnh, để anh xem đủ rồi mới nói giá.
“Chỗ này tôi cho dùng. Dầu cũng có thể lấy từ kho. Đổi lại, chuyến của Liên thuyền được xếp trước trong giờ đèn.”
“Trước những ai?”
“Người tới sau thì chờ. Người tới sớm, nếu thuyền tôi chưa vào, cũng chờ một chút. Tôi bỏ bến và dầu, hàng không thể mắc ngoài kia.”
Nhạc nói bình thản. Duy nhìn dãy bao kê dưới mái, thấy việc chờ một chút của chủ kho có thể là cả lượt nước của người đánh cá. Anh hỏi tối có bao nhiêu chuyến. Nhạc đưa ra lịch, có buổi chỉ một, có buổi ba chiếc nối nhau, giờ đến tùy con nước.
“Tôi đã nhận một canh cho tuyến bến,” Duy nói. “Không thể để người đang chờ phải nhường một chuyến chưa tới.”
“Vậy đặt ca mới ở đây. Chỗ cũ anh vẫn dùng đèn thường.”
Đúng lúc ấy, hai người khuân đẩy xe qua. Họ phải đợi người nhận kho mở cửa mới được dỡ bao. Duy tránh sang bên, nhìn chiếc xe nặng lún một vệt trên ván. Anh hiểu vì sao Nhạc muốn giờ chắc; cũng hiểu người chủ bến có đủ việc riêng để dùng hết phần thuận lợi này.
“Tôi có thể thuê chỗ không?” anh hỏi.
Nhạc nói giá tháng, cộng tiền người coi bến. Số ấy lớn hơn cả khoản công hai đèn anh đã thu hôm trước. Duy hỏi thuê theo ca thì sao. Ông cân nhắc rồi lắc đầu: bến phải để trống lúc hàng tới, không thể chờ anh nhận đủ khách mới biết có dùng.
Duy xem lại lịch thêm một lượt. Có chuyến tới đúng giờ người xóm bãi tan việc; dời ca dân sang muộn hơn sẽ buộc họ chờ ngoài bến đến khuya. Anh hỏi liệu Liên thuyền có chịu đăng ký từng chuyến như những thuyền khác. Nhạc nói được, nếu trả phí bến thông thường. Ông không cần bỏ một chỗ cập tốt chỉ để nhận cùng quyền xếp hàng.
Họ không tìm được mức nào Duy trả nổi. Nhạc cất lịch, bảo lời mời còn đó tới hết tuần. Ông không đòi Duy hứa ngay, cũng không bớt điều ưu tiên. Trước lúc đưa anh về, ông chỉ đám người dưới bến, nói họ đều ăn theo những chuyến hàng đúng hẹn.
Duy mang chuyện ấy về gặp Bách. Ông già đang vá mảnh mái bằng tấm cót mượn, hỏi bến có tốt thật không. Anh đáp tốt. Nói xong, anh thấy khó chịu hơn lúc đứng trước Nhạc; từ chối một chỗ tệ hẳn dễ hơn nhiều.
Kha nghe tin thì đưa anh tới đoạn bờ công dưới miếu. Đất không thuộc kho nào, người quanh xóm vẫn kéo thuyền nhẹ lên, nhưng mép bờ đã bị nước ăn thành răng cưa. Một cây sậy nằm ngang, cả búi rễ lộ ra như chiếc chổi ngược.
“Chỗ này ai cũng tới được,” Kha nói. “Còn cập được hay không thì phải hỏi Tố.”
Duy đứng trên phần đất cao nhìn xuống. Anh không thử cắm cọc. Buổi đo hôm qua vẫn còn trong cánh tay mỏi, cùng số tiền trả người chở đá về. Anh đánh dấu mép sạt, nhờ Kha báo đừng kéo thuyền nặng lên đó cho tới khi đo xong.
Chiều, anh gửi trả lời tới Liên thuyền: chưa nhận chỗ đặt đèn theo điều kiện đã bàn. Đơn mười đèn thì ông Nhạc có thể mang khung tới để báo giá riêng. Người đưa tin đọc lại hai việc, gật đầu rồi đi. Duy đứng ở cửa nhìn chiếc thuyền rời bậc; cơ hội làm nghề vẫn còn, chỗ neo thuận đã mất.
Tối ấy một cơn mưa ngắn quất qua miếu. Bách phải chuyển bát tiền và sổ dầu tránh giọt dột mới. Duy đem thúng kê vào chỗ ấy, rồi ra giữ ca. Từ chân đèn, anh thấy bên Liên thuyền đèn kho cháy thành một hàng dưới mái khô. Anh kéo vạt áo che hộp bấc, chờ thuyền cuối qua phao. Ngày mai, anh phải trở lại đoạn bờ lở, lần này mang theo người biết đọc những gì nằm dưới nó.