Chiếc thuyền ngoài cồn mất sau bụi sậy khá lâu. Duy nhìn đốm đèn chén thiếc, đợi nó chuyển ra phía nước. Khi ánh sáng nhích được một đoạn rồi đứng yên, anh chống tay lên ghế, suýt đứng bật dậy.
Bách giữ vai anh.
“Thuyền còn ở đấy. Họ đang đón người.”
“Từ gò xuống có hố.”
“Cậu đã chỉ rồi.”
Duy biết mình đã chỉ, còn cắm dấu tận nơi. Nhưng nhìn từ bờ, anh không thấy được người cha trẻ có bước hụt không, bà áo tơi có mang theo chai dầu đang mở hay không. Anh chỉ thấy ngọn sáng đứng yên giữa sậy, đủ lâu để tưởng ra mọi điều có thể xảy đến.
Một tiếng gọi vọng sang. Anh không nghe rõ lời, bèn giơ sào buộc áo lên cao. Ngoài ấy có một ngọn đèn đáp lại, nâng hai lần. Đó là dấu người lái đã dặn: đủ người, đang quay về.
Duy thở ra, nhận ra mình đã ghì cứng bàn tay vào mặt ghế.
Ông cụ ngồi dưới hiên miếu, chân được kê trên chiếc rổ úp. Đứa cháu vừa khóc vừa kể chuyện chạy sang tìm Duy, kể đi kể lại tới đoạn không dám xuống bậc đá. Ông để nó tựa vào mình, lâu lâu sờ đầu nó. Người mẹ trẻ ôm con ngồi cạnh, mắt vẫn hướng ra bãi.
“Thuyền về rồi,” Duy báo.
Chị đứng ngay lên. Bách nhắc chị cứ ở trong hiên cho đứa bé khỏi gió. Chị nghe nhưng chỉ lùi được nửa bước, kéo chăn che mặt con, tiếp tục đợi.
Thuyền hiện qua chiếc phao cuối. Đèn chén thiếc được treo ở đầu mái; dưới nó, ba người ngồi sát nhau. Người cha trẻ giơ tay về phía miếu. Người đàn bà áo tơi ôm chai dầu trong lòng, còn người cầm sào giữ một bó sậy khô tránh mạn.
Duy nhận ra chiếc áo mình đưa bà lúc sửa đèn đã được bà gấp mang theo. Hộp đồ nghề không thấy đâu. Anh vừa định hỏi thì thuyền khựng ở đoạn rãnh.
Người lái hạ mái chèo, bảo mọi người ngồi yên. Một thân cây mục trôi ngang, nhánh chìm mắc vào chiếc phao. Ánh đèn trên dây soi được nhánh gỗ sát mặt nước; phần sâu hơn chỉ hiện lờ mờ. Duy giơ sào chỉ về phía trong, nơi anh đã dò tránh tấm ván có đinh.
“Qua bên này! Chậm thôi!”
Người lái không quay thuyền ngay. Ông dùng sào đẩy thử, thấy có khoảng mới kéo mũi sang. Bạn chèo giữ phía sau, để chiếc thuyền đi ngang qua vật mắc. Dây neo bên Duy căng bật một lần; anh đưa tay chạm, thấy nút vẫn giữ.
Anh có thể soi nhánh gỗ ấy rõ hơn trong đoạn đường mình đã nhận. Anh không thể xua nó đi. Hai mái chèo cùng cây sào mới đưa được thuyền ra khỏi chỗ vướng. Khi mũi thuyền vượt qua phao, người đàn bà áo tơi cúi đầu một lúc lâu, đến gần bậc mới ngẩng lên.
Họ đưa từng người lên bờ. Người cha bước lên trước để đỡ bà; bà lại khăng khăng đưa chai dầu cho Duy rồi mới chịu nắm tay. Người cầm sào ở lại giữ mạn, chờ bạn chèo kéo thuyền sát bậc khô. Ông là người cuối cùng rời thuyền.
Duy đếm lại những người trên gò. Ai cũng ở đây. Người cha đã bế con từ tay vợ, vừa dỗ vừa cười; bà áo tơi đem áo trả anh, kể chiếc hộp sắt còn dưới gốc cây vì thuyền không tiện ghé. Duy nhận áo, nói để sáng anh tính.
Phía đông đã nhạt màu. Chưa thấy mặt trời, nhưng hàng cọc ngoài bãi bắt đầu tách khỏi nền tối. Duy hỏi ông cụ và nhóm người lớn xem còn ai mắc lại mà họ biết không. Họ đối lại những người đã gặp từ chiều, đều lắc đầu. Những người họ nhờ anh đưa về đã qua bờ trước sáng.
Anh quay sang Bách.
“Xong rồi phải không?”
“Cậu hỏi họ, đừng hỏi tôi.”
Ông cụ nghe được, gọi với xuống:
“Về tới đây rồi, cậu còn phải ngồi ngoài ấy làm gì? Vào uống hớp nước.”
Người cha trẻ cũng cảm ơn, bảo cả nhà đã an toàn. Duy nhìn lại đoạn dây sáng. Anh vẫn sợ chỉ cần rời mắt, ai đó sẽ bị bỏ quên ngoài tối. Nhưng không có người nào còn đang trên tuyến họ vừa đưa về.
Anh nói rõ chuyến đón đã xong, rồi hạ bấc đèn.
Vệt sáng dọc phao nhạt xuống. Cọc, sậy và nước trở lại những sắc độ mờ của buổi sớm. Duy đốt thử bấc lên vừa phải; lửa vẫn cháy vàng sau kính, chỉ soi một vùng nhỏ quanh chân đèn. Anh đưa tay dọc dây, không còn thấy nút xa hiện rõ như trước.
Thế là có thể hết thật.
Anh ngồi xuống bậc, hai chân bỗng nặng rũ. Bách đem bát nước nóng tới, đặt vào tay anh. Người lái đã buộc xong thuyền, lên hiên xin nước uống; ông cũng mệt đến mức phải tựa lưng vào cột. Duy phải ôm bằng cả hai tay mới giữ khỏi sánh. Ông cụ trên hiên gọi lần nữa, nhường cho anh chỗ ngồi kín gió cạnh đứa cháu đang ngủ gục. Duy uống một hớp, rồi đứng lên đi vào.