Ông già không tiếp họ vào sáng hôm sau. Người thợ trẻ nói ông đau đầu, nhưng Duy nghe tiếng ông cãi chuyện lạt buộc phao trong sân sau. Anh đặt túi bánh lên bậc, đứng đợi một lát rồi lấy lại. Đem quà tới lúc người ta đã không muốn nói chỉ làm câu hỏi của anh khó nghe hơn.
Tố cúi xem chiếc phao thử kê bên cửa. Vành tre bên phải cao hơn bên trái, dây đáy còn ướt. Cô hỏi người thợ có cần thêm tay kiểm tải không. Một mẻ phao phải hạ trước trưa, hai người của xưởng đang kẹt ngoài bến. Duy nhìn sang sân sau, rồi xắn quần lội xuống rãnh thử.
Việc ấy không khó bằng lặn vách nhưng tốn sức. Họ thả từng bao, đẩy phao xoay theo cạnh, đo đoạn dây ăn vào chỗ nối. Duy nhìn rõ vì sao hôm trước ông già cáu: một mắt buộc chịu tải lệch làm lạt cắt vào tre. Anh thay đoạn lót, không buộc lại theo ý mình trước khi gọi người thợ tới xem.
Ông già ra lúc họ đang thử bao thứ ba. Ông chống tay lên đầu gối, nhìn chỗ lót rất lâu.
“Để thế nước ăn vào, mục trước.”
Duy tháo ra. Ông lấy một miếng khác, ném xuống cho anh, rồi đứng chỉ tới khi lạt nằm đúng mặt. Tố hỏi số tải ông muốn dừng. Ông trả lời cụ thể, có vẻ nhẹ người vì ít nhất câu hỏi này không nhắc tới vách tối.
Gần trưa, họ xong hai chiếc. Người thợ trẻ tính công, Duy nhận phần vừa đủ tiền thuê dây một buổi, không đẩy lại để đổi lấy lời kể. Ông già thấy vậy mới kéo chiếc ghế thấp từ trong nhà ra, bảo anh ngồi ăn cơm nguội nếu chưa có chỗ.
Họ ăn cạnh phao, không ai nhắc cửa ngầm trong mấy miếng đầu. Ông hỏi Duy có phải con người thợ sửa đèn hay qua đây trước kia không. Anh nói tên cha. Đũa ông dừng một chút rồi gắp tiếp.
“Ông từng gặp cha cháu?”
“Có. Sửa đèn để người ta làm đêm. Còn việc dưới cửa không phải ai đứng gần cũng biết hết.”
Duy kể tiếng vừa nghe, nói rõ anh chưa nhận ra giọng. Ông già nhìn Tố, hỏi cô có nghe cả câu không. Cô trả lời chỉ chắc chữ chốt. Duy đợi ông cười nhạo hoặc bảo là vọng nước. Ông chỉ kéo bát ra xa, lấy khăn lau hai bàn tay.
“Tôi không chỉ chỗ để cậu kéo người lên. Hồi sập, đã có người xuống. Chạm sai một nấc, ngoài bãi nước dâng tới tận nền bếp. Có người lặn lần sau không về.”
Ông không nói tên người ấy. Duy định hỏi, nhưng thấy bàn tay ông gấp chiếc khăn tới lần thứ ba, anh giữ lại. Tố hỏi những lần thử đó có để lại dấu đo không. Ông lắc đầu: nhóm của ông chỉ sửa phần ngoài, việc giữ áp do người khác làm. Sau khi khu đóng, đồ cũ trả về mỗi nơi một ít.
Ông vào nhà lấy một mảnh giấy dầu, mở trên mặt ghế. Duy thấy nét mực đã nhạt, vài cung cong bị cắt mất ở mép rách, chỗ nối có ba dấu chia nhỏ. Đây là hình người thợ dùng để nhớ vị trí phao và cửa thăm, không có đủ cao độ hoặc kích thước. Ông đặt ngón tay lên phần còn đọc được, giữ chặt mảnh giấy mỗi khi gió lùa.
“Lối lớn từng ở đây. Đá bây giờ chèn lên nó. Cái khe các cậu thấy nằm ngoài miệng cũ, chắc nước mới rửa đi một lớp. Đừng gọi nó là cửa vào.”
Tố xin chép riêng dấu lối lớn và mép tảng đá, bỏ những nét không hiểu. Ông cho, nhưng không cho mang bản đi. Duy nhìn ba nét cong nằm ngoài phần Tố chép, hỏi chúng là gì.
“Tôi nhớ có đường thoát khác. Còn ra đâu thì không dám nói. Giấy này vốn đã thiếu.”
Anh không nài. Tố đánh dấu nguồn từ trí nhớ và mảnh nghề, để trống phần chưa biết. Ông già nhìn cách cô bỏ khoảng trắng, dịu giọng hơn. Ông chỉ thêm một bậc đá dùng chân dò trước lối sập, dặn tuyệt đối không lấy nó làm điểm giật dây.
Duy hỏi trong lần sập ấy có ai ở lại sau khi người khác lên không. Ông nhìn ra rãnh nước, nơi hai chiếc phao vừa thử đang trôi sát cọc.
“Có người nhận giữ. Tôi không thấy mặt. Người ở ngoài nghe bảo phải rút, thế là rút. Tôi vẫn tưởng người giữ đã được đổi sau đó.”
“Nếu chưa đổi?”
Ông không trả lời ngay. Một bao thử lăn lệch trên phao, ông đứng dậy nhắc người thợ kê lại, rồi mới quay sang Duy.
“Thì càng không được chết thêm vì nóng ruột.”
Trước khi về, Duy xin trả tiền giấy chép. Ông xua tay, bảo lần sau có công kiểm phao thì tới làm như hôm nay. Anh nhận lời với buổi còn trống, không hứa bỏ cả lịch đèn. Mảnh giấy dầu lại vào nhà; theo họ xuống bến chỉ có vài dấu rời và điều có người từng ở lại, chưa có một cái tên.