Nước buổi sáng lạnh hơn Duy chờ đợi. Anh ngồi trên mạn thuyền, nhúng hai chân trước, xoa mu chân đã lành da rồi kéo lại vòng dây. Kha giữ đầu còn lại, hỏi anh nhắc tín hiệu lên. Duy giật đúng hai cái. Tố nhìn giờ nước trên cọc, chỉ chỗ anh được tới, không đưa tay xa hơn vải dấu họ vừa đặt.
Đèn tay nằm trong hộp kính trên thuyền. Ánh ngày còn tới được phần nước nông, dưới mép đá phải nhờ tấm kính nghiêng hắt sáng. Họ không có lời nhận soi đường nào cho cuộc lặn này. Bộ đèn của ca tối đã lau, cất ở miếu; Bách ở lại nhận đồ sửa và báo người đi tuyến giờ thường.
Duy xuống theo dây, chạm chân vào nền bùn trước rồi mới thả người trôi ngang. Dòng tạt qua sườn khiến anh phải đổi vai. Chỗ nước hụt sáng nhìn từ trên giống một vệt tối phẳng, tới gần mới thấy đá nhô thành nhiều lớp, bùn mắc giữa từng gờ. Anh không biết đằng sau chúng là đất đặc hay một khoảng rỗng.
Anh đặt vật gõ đầu tiên lên phiến ngoài, đúng dấu Tố chọn. Đó là một khúc gỗ ngắn có dây riêng. Tiếng đục tới qua nước, rung vào ngực nhiều hơn vào tai. Sang điểm thứ hai, anh đổi sang thanh sắt bọc đầu. Tiếng ngân gọn rồi mất. Điểm thứ ba ở sát mép tối, anh chỉ chạm được tay phải nếu giữ chân trên gờ.
Duy gõ hai lần, dừng, rồi gõ một lần nữa. Vách trả lại một âm mỏng, sau đó có tiếng rì kéo dài như nước lọt qua khe dưới đá. Anh nghiêng đầu. Dây trên lưng kéo nhẹ: Kha hỏi tình trạng. Duy đáp một cái, trở lại theo đường xuống, không ở lại để thử thêm.
Lên thuyền, anh nằm sấp qua tấm ván, thở tới khi lồng ngực thôi đau. Tố quấn khăn quanh vai anh rồi hỏi từng điểm. Cô không hỏi anh có nghe cha hay không. Duy vẽ lên tấm gỗ ướt một chỗ lõm, hai gờ và đường nước anh nghe được phía trong.
“Có thể là khe chạy ngang. Tôi chưa thấy miệng.”
Tố gạch chỗ ấy bằng nét đứt. “Lần nữa chỉ nhìn. Đừng gõ vào đá đang chèn.”
Họ nghỉ đủ lâu để tay Duy ấm lại. Kha thay cách buộc thuyền, giữ mũi khỏi ép ngang khi có chuyến hàng đi qua. Tố đặt ba vật lên mạn: gỗ, sắt bọc và viên đá nhỏ. Mỗi vật để lại một tiếng khác nhau. Cô muốn biết âm kéo dài có theo vật gõ hay vẫn xuất hiện khi họ không chạm vách.
Lần xuống sau, Duy đưa tấm kính nhỏ vào góc hắt sáng. Anh không cầm đèn ngọn trần dưới nước. Vệt sáng từ trên chao qua lớp bùn, lộ một đường nứt mảnh chạy chếch tới dưới gờ đá. Mép bùn ngoài nhẵn và có màu khác lớp bám lâu ngày. Anh lấy que chạm thật nhẹ, thấy bùn tróc một miếng nhỏ theo dòng.
Tiếng rì vẫn có khi anh dừng tay. Nó mạnh lên rồi hạ xuống, không theo nhịp gõ. Duy ghé tai gần nhưng chỉ nghe một tiếng ù kín. Một ý nghĩ bật tới: nếu bên kia có người đang kêu, liệu tiếng nước này có nuốt hết? Anh đưa tay lên theo phản xạ, rồi nhớ điều đã hứa trên bờ, rút que lại.
Hai giật dây gọi anh lên ngay lúc ấy. Anh quay đầu, thấy nước quanh tấm kính đục thêm, không rõ do mình hay do dòng trên đổi. Anh bỏ ý định xem hết đường nứt, lần về. Kha kéo phụ ở đoạn cuối. Tố đã cất cả ba vật gõ vào rổ.
“Chưa tới giờ đổi mà,” Duy nói sau khi lấy lại hơi.
“Vệt bùn ngoài đổi hướng. Anh có thấy?”
Anh gật. Cô hỏi nếu đứng sát vách thì anh có nhìn được đường dây sau lưng không. Anh lắc đầu. Tố trải khăn khô, ngồi đợi anh tự cởi vòng dây. Không ai xuống thêm.
Họ đem dấu đo về một bãi cạn, đối âm từng vật với vị trí Duy đã chạm. Anh kể rõ tiếng ù không thành lời, đường nứt mới chỉ thấy được một đoạn. Kha bảo từ trên có hai lượt bọt nhỏ sát gờ ngoài, không có bọt đều đủ để kết luận phía sau là chỗ thở. Tố ghi cả điều ấy rồi khoanh ba điểm không được nạy.
Duy vẫn muốn biết đường nứt chạy tới đâu. Nhưng khi nhìn tấm kính, anh thấy một cạnh đã xước vì đá, nhớ mình gần như quên cả tay đang tì vào đâu lúc nghĩ tới tiếng kêu. Anh đem kính bọc riêng, không xin thêm một lượt nước.
Trên đường về, họ ghé chỗ thợ sửa phao để trả thanh sắt. Người thợ nhìn nét Duy vẽ, gọi ông già đang buộc vành tre ngoài sân. Ông bước tới, mới xem gờ đá đã hỏi ai cho họ gõ ở đó. Tố nói chỉ gõ ngoài vách, chưa chạm chốt nào.
Ông già đẩy tấm gỗ lại. “Ngày trước người ta cũng nói chỉ xem một chút.”
Duy chưa kịp hỏi thì ông đã quay đi, kéo tấm phao đang vá vào sát chân. Trên bàn còn vết ngón tay ướt của ông, nằm đúng chỗ đường nứt Duy chưa vẽ hết.