Duy hạ mái chèo ngang mạn, để thuyền trôi chậm qua chiếc phao. Bờ đã gần, anh nhìn được Bách đang quỳ cạnh cọc đèn. Một người giữ vai ông, người khác cầm cây sào chắn dưới bậc đá. Nước dâng làm sợi dây phao căng lên, giật cả miếng gỗ chèn chân đèn khỏi kẽ cọc.
“Đừng đẩy thuyền vào dây!” Bách gọi.
Duy vòng sang phía trong, áp mạn ở bậc thấp. Mẹ đứa trẻ đợi sẵn, vừa đỡ con vừa đưa tay tới ông già, cuống đến nỗi không biết đỡ ai trước. Duy nhờ người trên bờ bế đứa bé của đôi vợ chồng, rồi cùng một người lái dìu ông cụ lên. Anh dặn họ giữ chân đau đừng chạm đá.
“Còn ba người trên gò,” anh nói khi người mẹ trẻ vừa lên hết. “Họ đang giữ đèn ở chỗ xuống thuyền.”
Người cầm sào bên bậc nhìn ra cồn.
“Ba người lớn?”
“Vâng. Hai đàn ông, một bà áo tơi. Theo những dấu tôi cắm thì tránh được hố. Bác có thuyền không?”
“Có, nhưng phải gọi thêm người.”
Duy định nhảy xuống chiếc thuyền con, tới khi Bách gọi tên mới dừng. Chân đèn nghiêng thêm, vệt sáng trên dây đứt ở mấy chỗ. Trong bình dầu, ngọn lửa thu lại dưới lớp kính bám muội.
“Cậu sửa chỗ này trước,” Bách nói.
“Cháu quay ra chở họ về đã.”
“Neo tuột thì đường cậu vừa dẫn cũng tối. Cậu vá tạm rồi đi, ai biết nó chịu tới khi nào?”
Duy đặt tay lên chân cọc. Miếng gỗ chèn đã nổi; đế đồng vẫn lành, nhưng cái vòng giữ dây trượt dần theo thớ gỗ ướt. Buổi chiều anh buộc phao lúc nước thấp, chỉ tính giữ tuyến để hôm sau đo tiếp. Bây giờ mỗi đợt sóng đều kéo cả đèn lẫn phao ra khỏi chỗ cũ.
Anh tìm trong thuyền. Đoạn dây gai nhỏ không đủ chịu lực, nhất là khi đã ướt. Còn cuộn dây cứu hộ nằm dưới ghế, loại anh vẫn buộc vào mình khi lặn sâu. Nó dài vừa đủ để vòng từ chân đèn tới cọc lớn ở trên bậc khô.
Dùng nó ở đây, anh sẽ không còn dây để xuống nước lần nữa.
Ngoài cồn, đốm đèn nhỏ lóe lên rồi bị sậy che khuất. Duy kéo cuộn dây lên bờ. Anh gọi người lái vừa nói chuyện, nhờ giữ đầu dây trong khi mình lội xuống ngang đế đèn. Bùn ở chân cọc lún đến đầu gối, nhưng anh còn vịn được vào bậc đá.
Bách đưa kìm. Duy tháo vòng dây phao, chuyển sức kéo qua cuộn dây cứu hộ, giữ đế đèn sát vị trí cũ. Anh không nhấc đèn đi tìm chỗ cao hơn. Cái đế đã nằm ở đây suốt chiều, trên tuyến anh dò; anh chỉ kê lại và siết cho nó không bị nước lôi.
Tới nút thứ hai, một cơn run chạy từ bắp chân lên lưng. Duy phải tì trán vào cọc, nghỉ một lát. Người lái hỏi có cần đổi không. Anh đưa đầu dây, chỉ nút đang làm dở, để người ấy siết giúp phần trên. Việc đó không cần tới phép của anh.
Bách rót dầu vào bình sau khi hạ bấc, lau kính bằng mảnh vải sạch. Khi ông đốt lại, ánh sáng trên dây hiện rõ từng đoạn. Duy chờ qua hai đợt sóng, sờ chân đế lần nữa. Nó đứng yên. Dây cứu hộ căng giữa hai cọc, không còn cọ cạnh sắc. Anh lấy đoạn gai nhỏ buộc phần dây thừa lên cao, tránh để người bước xuống bến vướng chân. Bách giữ đèn cho anh kiểm hết một lượt, rồi mới đặt bàn tay đang run của anh lên bậc đá khô.
“Thế mới ra đèn,” Bách lẩm bẩm, cất chai dầu đã vơi.
Duy leo lên, định cởi dây cứu hộ một vòng để lấy bớt phần thừa. Anh nhìn nút buộc rồi thôi. Số dây còn lại chẳng đủ giữ người trong rãnh, còn tháo lúc này lại làm chân đèn chao.
Người lái đã gọi được một bạn chèo. Họ đem tới chiếc thuyền rộng, có mái thấp. Duy nhờ họ đón ba người trên gò, nói rõ chỗ ván có đinh, cành sậy đánh dấu hố và lối áp mạn dưới gốc cây. Anh muốn đi cùng, nhưng Bách chỉ chân đèn.
“Đợi họ qua hết rồi hãy rời.”
Người lái nhìn cuộn dây đang căng, nói:
“Cậu soi đường. Chèo là việc chúng tôi.”
Duy đứng lặng vài nhịp rồi gật. Anh tháo chiếc áo còn ẩm, buộc lên cây sào làm dấu cho thuyền nhận ra bậc xuống an toàn. Người lái nhắc anh đừng tự xoay dấu ấy khi họ chưa về.
Chiếc thuyền rộng rời bờ. Duy đứng cạnh đèn, nghe mái chèo khua đều, rồi xa dần. Vết xước trên chân rát nhức trong lớp vải bẩn. Anh muốn ngồi nhưng lại sợ bỏ lỡ một dấu gọi ngoài cồn. Bách kéo chiếc ghế thấp tới sau đầu gối anh.
“Ngồi vẫn nhìn được.”
Duy ngồi xuống, kéo ghế lùi khỏi mép bậc ướt. Lần đầu từ lúc sang bãi, anh có thể nhìn con đường mình vừa đi mà không phải dò bước tiếp theo. Ngoài chiếc phao cuối, đèn chén thiếc vẫn chờ những người chèo thuyền tới.