Lần đầu gõ qua ống, Duy dùng nhịp thợ vẫn gọi nhau ở chỗ khuất: ba tiếng đều, dừng, hai tiếng. Anh đặt đầu gõ lên miếng đồng ở miệng ngoài, đủ làm nó rung mà không dồn lực vào vách. Bên kia chỉ có tiếng nước nhỏ xuống một mặt gì cứng.
Tố nhìn đồng hồ nước nhỏ mang theo, nhắc còn một khoảng thử. Kha ngồi giữ thuyền, hai bàn tay khuất dưới mép áo vì gió lạnh. Duy đổi góc đầu nghe như đã ghi, chờ qua nhịp nước đẩy rồi gõ lại. Tiếng đáp tới sau đó quá gần tiếng của chính anh; anh không biết là người nhắc lại hay âm dội qua khe.
Họ tháo đầu gõ, thử ở khúc ống nằm trên thuyền. Tố đậy đầu kia bằng vải ướt rồi mở ra, nghe tiếng thay đổi. Duy ngồi nhìn vách. Anh có thể thử mãi rồi chọn một tiếng giống điều mình muốn. Tờ giấy ghi câu đừng kéo chốt vẫn còn phần nghe khác nhau của ba người; anh không muốn lần này chỉ có mình nghe được.
“Đổi một nhịp không đều,” Tố nói. “Nhưng đừng nói trước nhịp đáp cho tôi.”
Duy lấy ngón tay gõ lên đầu gối. Hồi còn nhỏ, cha bắt anh học cách báo từ trong khoang sửa đèn: hai nhịp dài, ba nhịp ngắn, một tiếng cuối. Ông thường bỏ hụt tiếng ngắn ở giữa, vì bàn tay bận kẹp vật hoặc vì ông tưởng đã gõ. Duy từng trêu, bảo người ta sẽ tưởng cha làm rơi búa. Ông đáp nếu còn trêu thì xuống khoang tự gọi người mở nắp.
Anh chưa kể chuyện ấy cho Tố. Anh chỉ hỏi cô nghe riêng và viết lại, kể cả khi không thành nhịp. Kha nhích thuyền vào dấu cố định. Mảnh đồng cánh đèn được đặt đúng góc thử ở ngoài, còn ống nghe đi qua khe mới; hai thứ không biến thành một đường gọi tùy ý. Duy phải đợi dòng lắng đủ mới nghe rõ tiếng gõ mình đưa vào.
Hai tiếng dài. Ba tiếng ngắn. Một tiếng cuối.
Anh buông tay khỏi miếng đồng, sợ cả ngón tay mình rung cũng thành một phần câu đáp. Nước dưới mạn vỗ hai lượt. Rồi trong ống có tiếng cộc nặng, cộc nữa, tiếp theo một tiếng ngắn, khoảng trống, một tiếng ngắn và một tiếng dứt.
Duy ngẩng lên. Tố cúi đầu ghi, chưa nhìn anh. Anh thấy tai nóng bừng dù vai còn lạnh, phải đặt cả bàn tay xuống ván mới ngăn được mình gõ ngay. Kha hỏi có làm tiếp không. Duy bảo đợi cô viết xong.
Tố đưa giấy. Hai nét dài, hai nét ngắn có khoảng cách rộng, một nét cuối. Đúng tiếng giữa bị thiếu. Cô hỏi anh đã chờ gì. Anh đọc nhịp đủ của mình trước, sau đó mới kể thói quen hụt tiếng của cha.
Không ai nói chắc đó là ông. Tố nhìn vào đầu ống, yêu cầu thử một nhịp khác để loại việc tiếng trước còn dội. Duy gõ nhanh hai tiếng rồi dừng hẳn. Bên trong im một lát, sau đó có hai tiếng chậm hơn, không cùng khoảng cách. Anh ngậm chặt môi. Sự chờ đợi trong tiếng đáp ấy còn khiến anh khó thở hơn nhịp hụt.
“Có ai ở trong đó không?” anh gọi.
Lời vào ống bị nước cắt, dội ngược lại nửa đầu câu. Anh muốn áp sát hơn thì Tố chạm tay lên vai, chỉ dấu nước trên cọc. Dòng bắt đầu tràn qua mức ngừng. Kha đã thu bớt dây. Duy nhìn tờ nhịp thêm một lần, rồi tự nhấc miệng khỏi ống.
Họ tháo phần ngoài, để lại dấu buộc cho buổi nước sau. Một tiếng cộc nữa tới khi đầu nghe đã rời vị trí; không ai ghi thành câu trả lời. Duy đứng trên thuyền, chân run tới mức phải ngồi xuống. Anh không xuống lặn thêm, cũng không tìm cách ép tiếng ấy trở lại.
Về miếu, anh kể Bách cả hai lần thử, đưa tờ ghi của Tố trước khi nói tới cha. Ông Bách nghe nhịp trên bàn, lặng đi rồi hỏi đó có thể là thói quen của người khác không. Duy đáp có thể. Nói ra hai chữ ấy làm anh đau, nhưng anh vẫn giữ chúng trên trang.
Miên nhận giấy nhắn qua đò vào chiều và gửi trả một dòng: em nhớ cha hay bỏ tiếng giữa, nhưng em cũng muốn nhìn. Kèm theo là giờ em được về thử vỏ kính với người trong xưởng. Duy đọc tới chỗ ấy, lần đầu trong ngày thấy mình có thể ăn hết bát cơm đã nguội.
Anh đem tờ nhịp tới dưới đèn thường, chép lại cho rõ. Ở cuối, anh ghi đáp khác nhịp đưa vào, giống lỗi cũ của cha; chưa thấy người. Bách hỏi anh có ngủ được không. Duy bảo sẽ nằm, nhờ ông gọi đúng giờ thay vì để mình thức chờ nước.
Đêm ấy không có tiếng gõ trong miếu. Ngoài hiên, Bách trở chiếc rổ đựng ống cho nước chảy hết rồi khép cửa. Duy vẫn nghe nhịp hụt khi nhắm mắt, nhưng tới lúc muốn ngồi dậy anh nhớ cái đầu nghe đã tháo, nhớ cả nét Tố chép trước khi anh kể. Anh nằm yên, giữ lấy điều vừa có mà chưa gọi nó thành cuộc đoàn tụ.