Miên về miếu lúc Duy đang tìm cuộn dây dưới gầm phản. Em mang theo hai miếng cót nhỏ, nói người ở xưởng bỏ đi, còn dùng vá được chỗ mái gần bếp. Chuyến đò trở lại bờ Nội chạy sau bữa trưa. Duy đỡ bó cót, giấu đầu dây vừa kéo ra sau gót chân.
“Anh tìm gì đấy?”
“Cái nêm.”
Miên cúi xuống nhặt chiếc nêm ngay cạnh chân bàn, đặt lên mặt phản. Duy nhìn nó một lát rồi quay đi rót nước. Em chưa cởi túi, mắt vẫn dừng ở khoảng tối dưới phản, nơi anh đã nhét cả cuộn dây sờn vào sâu hơn từ sáng.
Bách ở ngoài hiên vá mui, nghe vậy thì ngừng kim. Ông không nói hộ. Duy đã nhờ ông hỏi thuê dây lành, lại dặn khoan nhắn Miên vì em đang bận học. Lúc nhờ, anh thấy đó chỉ là cách tránh làm em lo trước khi có gì chắc chắn. Bây giờ chiếc nêm nằm giữa hai người, anh không còn thấy lý lẽ ấy dễ nói.
Miên đặt túi xuống, quỳ một gối thò tay vào gầm phản. Duy định đỡ em dậy nhưng em đã kéo được cuộn dây. Đoạn xơ có vải buộc dấu lộ ra đầu tiên.
“Dây này anh còn mang lặn à?”
“Không. Anh đang tìm để đối chiều dài, thuê cuộn khác.”
“Vậy sao bảo tìm nêm?”
Duy ngồi xuống mép phản. Bách đem kim ra xa thêm một chút, để chén nước lại trên bậc. Miên cầm cuộn dây trên đùi, không giận ầm lên. Em chỉ đợi, giống những lần hồi nhỏ đợi anh trả một món đồ đã tự ý lấy.
Anh kể chuyến đêm, từ lúc kết hai ca tới khi trở về miếu. Khi nói tới câu trong mảnh đồng, anh lấy giấy Tố đã ghi đưa em xem. Miên đọc từng dòng, hỏi Tố nghe được gì trước khi nghe anh nhắc lại. Duy chỉ vào phần chữ chốt, rồi phần Kha nói có tiếng người.
“Anh nhận ra cha không?”
“Chưa. Anh muốn nhận, nhưng chưa nhận được.”
Miên đặt giấy xuống. Ngoài bếp, nước sôi trào qua miệng ấm. Em đứng lên nhấc ấm, lấy giẻ lau bếp rồi mới quay lại. Duy nhìn những việc nhỏ ấy, không đoán được em đang nghĩ gì. Anh đã chuẩn bị cách cãi nếu em cấm lặn; sự im lặng của em khiến anh khó chịu hơn.
“Em không giữ anh ở trên bờ được,” Miên nói. “Nhưng anh định xuống mà không cho em biết, rồi nếu có chuyện thì ông Bách phải đi gọi em?”
Anh cúi nhìn vết xơ trên dây.
“Anh sợ em xin nghỉ xưởng.”
“Anh cứ nói lịch thật. Em có lịch của em. Không về được thì em nói không về được.”
Duy nhận lại cuộn dây, để nó hẳn lên bàn. Anh bảo sẽ không dùng cuộn này ở vách tối, cũng không xuống trước khi Tố xem chỗ nước và có người giữ dây. Miên hỏi ai được gọi anh lên nếu anh thấy một thứ giống đồ của cha. Anh nói Kha giữ dây; em hỏi lại nếu anh không chịu thì sao.
Buổi trưa Tố tới lấy tờ đo để đối giờ nước. Duy mời cô ngồi, nói lại điều vừa hứa với Miên. Cô nghe hết, đặt tờ giấy xuống cạnh cuộn dây.
“Tôi chưa nhận dẫn anh vào đâu cả. Buổi đầu chỉ xem mặt vách, chạm dấu rồi lên. Nước đổi, dây mắc hoặc người trên gọi, anh phải lên.”
“Nếu đang có tiếng?”
“Vẫn lên.”
Duy nhìn nét chữ cuối cùng trên giấy. Anh đã nhớ câu ấy suốt đêm, nghĩ tiếng có thể không tới lần nữa. Tố không rút lời, cũng không an ủi rằng ngày sau chắc còn cơ hội. Miên ngồi phía bếp, hai bàn tay khép trên đầu gối.
“Được,” anh nói. “Cô có quyền dừng. Không phải đợi tôi đồng ý dưới ấy.”
Họ chọn buổi nước sáng sau ngày nghỉ, cách xa ca đèn tối. Kha còn một chuyến hàng, chỉ nhận giữ thuyền tới giờ đã hẹn, tiền công tính như việc lặn khác. Duy bớt một buổi sửa đèn để ngủ đủ trước đó. Bách ghi lên bảng phần đường thường vẫn có lái và phao, không có cảnh báo phép vào giờ họ đi; người cần ánh phải chọn đúng ca còn nhận.
Cuộn dây thuê được đem tới vào cuối bữa. Duy cùng Kha lần hết từng sải, thử chỗ nối rồi để riêng, trả cọc bằng phần công vớt còn giữ. Móc đôi mất chưa mua lại, họ mượn móc thường và không dùng nó để kéo vật chưa rõ. Miên cầm đầu dây lành thử buộc vòng, gọi anh tới xem chỗ nút em sợ trượt.
Lúc đưa em ra đò, Duy định nói có gì sẽ báo sau. Anh dừng lại, sửa thành sau buổi xem vách sẽ nhờ chuyến Kha mang giấy qua, dù có thấy gì hay không. Miên gật đầu, bước lên ván.
“Viết cả lúc cô Tố bắt anh lên.”
Duy đứng trên bậc tới khi đò qua cọc. Cuộn dây cũ ở lại trên bàn, chẳng còn là thứ cần giấu. Anh đem nó treo vào chỗ đồ phải sửa, rồi trải dây thuê ngoài sân cho khô, đủ sáng để nhìn thấy từng sợi.