Gói thức ăn đầu tiên bị kẹt ở chỗ ống gấp. Duy buộc nút quá to, lại bọc hai lớp vì sợ nước ngấm. Anh kéo về, thấy lớp ngoài rách một đường dài. Kha nhặt hạt cơm dính trên miệng ống, bảo nếu cố đẩy thì xuống tới cha chỉ còn nước gạo.
Họ đem gói về bờ sửa, không lấy que nện vào. Người đo áp ngồi ở cọc ngoài chờ, ghi rõ chưa chuyển được gì. Duy chia đồ thành những phần nhỏ, dùng vỏ ống kín kéo bằng dây mảnh riêng. Khe mới chỉ vừa đủ vật dài và hẹp; đầu trong phải nhô tới chỗ cha có thể lấy bằng tay còn rảnh.
Cha đã nói mình không đi xa cần được. Duy nhờ ông tả tầm với, đối qua kính và dây dấu rồi mới đặt đường chuyển. Họ thử một gói vải rỗng trước, cha chạm được, gõ một tiếng xác nhận. Tố không cho đặt bất cứ chỗ buộc nào lên đá chèn đang giữ miệng lối lớn.
Lần thứ hai, thức ăn tới được. Duy nhìn qua kính, thấy bàn tay gầy nâng vỏ ống lên, ngón lệch tì dưới đáy như ngày trước vẫn đỡ bát. Ông mở bằng một tay rất chậm. Duy định bảo cứ để con làm, lời tới môi mới nhớ mình cách ông cả một vách đá.
“Cha ăn thử ít thôi,” anh nói qua đầu nghe. “Đồ mềm, không phải cá khô.”
Ông đáp đã biết. Chỉ hai chữ ấy thôi mà Duy thấy bực: anh không biết cha có thực sự nghe lời hay lại ăn cho nhanh để khỏi làm phiền. Nhưng qua kính ông đang bẻ phần nhỏ, đưa lên miệng từng chút. Anh nhìn tới khi Tố nhắc nhường chỗ cho người đo kiểm ống.
Thuốc không thể gửi bừa theo lời một người bán. Duy đã hỏi thầy thuốc ở bến, đem tới tờ ghi cha ăn gì, ngủ thế nào, tay yếu ra sao. Người ấy chỉ cho phần dùng ngoài và gói bù ăn thông thường, dặn chưa khám thì không hứa chữa được cơn tê. Họ đưa cả lời dặn qua ống, nhờ cha nhắc lại trước khi mở gói.
“Tay cha đau từ bao giờ?”
Phía trong im một đoạn. Duy nghe tiếng vỏ chạm đá, nghĩ ông chưa nghe. Anh hỏi lại thì cha bảo không nhớ ngày, lúc đầu đỡ sau khi đổi chỗ tì, gần đây đổi cũng không hết. Khí trong cửa khiến người chậm đi, có khi qua nhiều bữa ông mới thấy đói rõ. Nó không làm bàn tay khỏe mãi.
Duy ghi số lần tê trong khoảng giữa hai lượt thăm. Ông nói không cần kỹ thế, chỉ là mỏi. Anh nhìn qua kính thấy cổ tay run lúc đưa vỏ rỗng trở lại, bèn đọc nguyên điều mình thấy. Cha không cãi nữa, bảo có hôm tê tới khuỷu.
Tố đứng bên nghe, hỏi phần chân có kê được chỗ khô không. Ông tả một phiến đá cạnh cần, cao hơn mặt nước, còn một phần áo cuộn làm đệm. Duy nhớ chiếc áo từng sửa nách ở nhà, nhưng không hỏi có phải áo ấy không. Anh ghi cần đệm mới vào cạnh danh sách, dưới đó là việc giữ đường chuyển khỏi cọ vào khe.
Kính cho thấy ông ngồi trong khoảng khí hẹp, vai phải lúc nào cũng nghiêng về cần. Giếng khí cũ vẫn có gió, song góc ngoằn ngoèo không đưa được lời ra ngoài như ống mới. Hai lỗ nước nhỏ còn cá, không phải đường thay ca. Duy nhìn những lối ấy trên bản đo, lần đầu chúng không chỉ là nét giải thích vì sao cha chưa ra.
Họ lấy vỏ rỗng về, kiểm đủ để không bỏ vật làm nghẽn dòng. Cha gõ cảm ơn. Duy hỏi ông có muốn món gì lượt sau. Ông đáp cháo nhà cũng được. Anh nói cháo khó giữ ấm và dễ tràn, sẽ hỏi cách mang rồi báo lại. Không ai hứa bữa nóng qua một khe chưa đưa nổi gói cơm lớn.
Tiền đồ ăn lấy từ phần nhà của Duy, công thuyền và người đo chia theo lượt đã thỏa thuận; quỹ dầu không tự gánh hết. Anh nhờ Bách ghi lịch mua và gửi, kể cả hôm mình trực đèn không tới được. Kha nhận chuyển gói ở những buổi sẵn đường, không nhận một lịch ngày nào cũng bỏ hàng. Nếu đổi người thuyền phải có người biết dấu và phép dừng đi cùng.
Buổi chiều, Duy giặt lớp vải rách ở thềm. Nước gạo chảy ra, anh nhớ cha trước kia ghét phí cơm, dù chỉ mấy hạt mắc đáy nồi. Lần gửi sau phải đổi kiểu bọc, giữ gói nhỏ nhưng đừng để nước ngoài cuốn mất. Anh ghi việc ấy cho mình, treo cạnh những dấu kiểm đã sạch và đã thu vỏ; một bữa tới được chưa có nghĩa mọi bữa sau tự tới.
Anh đã tìm thấy cha, gửi được bữa ăn, nhưng mỗi lần nhìn tay cha run lại thấy thời gian không còn là thứ có thể đợi tới khi mình giỏi hơn một cách mơ hồ. Anh trải vải lên dây, gọi Tố hỏi buổi học cơ cấu đầu tiên. Cô hẹn sau ca nghỉ, đem theo vật mẫu; hôm ấy chỉ học, chưa có chuyện tới cửa nhận thay.