Chỗ cập qua được buổi thử bao cát trước, rồi một lượt thợ đi không, sau đó mới tới người gánh hai sọt nhẹ. Không ai lấy lần đầu làm đủ. Tố đo cả lúc rút tải, Kha cho thuyền quay vào đúng khoảng cọc, người giữ dây được quyền dừng như đã bàn. Người thợ bị ngã ngồi trên bờ, chân còn băng, nhìn từng mối nối qua chiếc gương nhỏ buộc đầu sào.
Đến cuối buổi, ông đồng ý cho dùng thử hạn chế. Cầu vẫn hẹp, thuyền lớn chưa vào, khi gió ép ngang phải ngừng. Duy ghi giới hạn ở lối xuống, chừa phần trống để sửa khi có số đo mới, rồi mời người sẽ dùng tuyến hai bờ tới miếu.
Bàn hiên chật hơn lần lập lịch cũ. Có người từ xóm bãi, có lái thuyền nhẹ, người nhận hàng mép trong và người cần qua bờ xa. Một ông tự xưng có thể nói thay cả dãy nhà, nhưng khi Duy hỏi người cuối dãy có đồng ý chờ giờ muộn không, ông bảo chưa gặp.
“Vậy hôm nay bàn phần những người có mặt trước,” Duy nói. “Nhà ấy dùng chuyến nào còn phải hỏi.”
Anh không gạt chiếc ghế của ông ra. Ông có thuyền và có việc cần, chỉ chưa thể nhận phần của người khác. Kha giúp chỉ hai nửa đường trên ván; Tố đọc các mức nước đã đo, nói chỗ nào không mở dù tới đúng giờ.
Người dùng tuyến cũ nghe lại việc đổi lịch ca bờ gần. Họ giữ một canh ở phía gần sau bữa tối trong những đêm thuận nước, dời giờ bắt đầu theo bảng triều đã báo trước, không tự kéo qua ca bờ xa. Giữa hai lượt có quãng ngừng, kiểm và chuyển đèn. Nếu người cuối về muộn, ca sau phải lùi hoặc đóng, không có thêm một Duy đứng chờ sẵn bên kia.
Một người chở hàng không chịu mất giờ đầu. Anh ta đã trả công khuân theo lịch cũ. Duy hỏi lịch nào thực sự đổi được, Kha tính chuyến thường cho buổi ấy; tiền phát sinh do đổi đã nhận phải tính vào việc tuyến, không bảo khách tự chịu hết. Họ bàn lại hai lượt, bỏ một buổi mở bờ xa trong tuần vì không chừa đủ khoảng đi lại.
Đến khi người chở hàng chịu, trời đã ngả nắng. Bách đem nước ra lần nữa, đọc số dầu còn trong kho. Phần góp mới đủ lịch thử ngắn, không đủ cả tháng. Họ chọn rà lại sau năm buổi vận hành mới; người không góp tiền được chọn góp công, cũng có người chỉ dùng chuyến và trả công lái, không nhận thêm việc miếu.
Người thợ bị ngã chống gậy tới muộn, đưa lại bản cầu có ghi chiều giằng mới. Ông hỏi ai giữ quyền dừng khi người đi đông. Kha chỉ người coi chuyến, Duy chỉ phần trực đèn, Tố nhắc thêm người kiểm cầu. Ba phần được ghi cạnh nhau; nếu một phần chưa đạt thì chưa mở. Ông xem kỹ rồi ngồi xuống cuối bàn, không phải vì chân đau mà mất tiếng trong công việc mình đã nhận làm.
Một người đàn bà hỏi nhà mình không tới đây lạy thì có được qua không. Duy đáp ai đi cũng phải nghe lịch và giới hạn chuyến, còn thắp hương là việc riêng. Người ở nhà không tới bàn chưa hứa gì với miếu; nếu có chỗ trên chuyến công và đường an toàn, họ vẫn dùng được.
Kha lấy vải màu chia hai phía bảng. Trong quãng trống giữa giờ, người không kịp có thể hỏi tuyến phụ thường, theo đúng mực nước, tải và người lái đã thử. Không có dấu mở thì không gọi đó là đường đang được đèn giữ. Người sửa thúng đọc lại, sửa một câu dài thành lời ngắn để người tới muộn không hiểu nhầm.
Sau cùng, nhóm trực tiếp cần bờ xa chỉ từng đầu đường, cọc quay và chỗ cập. Họ xin Duy dẫn trong các lượt đã thống nhất, chỉ khi nước nằm trong mức cho phép, đến hết đợt thử rồi cùng rà. Những người dùng ca cũ xác nhận lại phần giờ đã đổi. Anh nghe câu trả lời từng nhóm, hỏi chỗ còn lẫn rồi mới nhận phần mới, bắt đầu giữ ca bờ xa.
Không có gì sáng lên trong buổi bàn ấy. Duy còn phải sửa khóa chụp, người lái còn về ăn cơm, người giữ dầu sang xem đèn thường tuyến phụ. Lời nhận mới cho họ một công việc có giờ, không dựng thêm một chân neo hay làm đầy những chai dầu đã vơi.
Buổi đầu, Duy giữ ca phía gần xong, chờ chiếc thuyền cuối buộc chắc rồi báo ngừng nhận. Anh thu đèn theo cách Tố đã kiểm, cùng Kha đưa qua bờ xa. Bách giữ ánh thường ở miếu và báo khách đến sau, không có cảnh báo phép thay anh. Quãng đi mất gần hết phần đệm, anh phải bỏ thói quen vừa cập là châm ngay, kiểm lại dây trước.
Khi phía xa mở, người đàn bà không nhận góp việc miếu lên chuyến cùng sọt rau đã bán hết. Bà hỏi lại giờ về, người lái trả lời rồi mới đẩy thuyền. Duy ngồi tại điểm đèn ấy, nhìn phần nước đã khảo sát hiện dần. Sau lưng, Bến Sậy là một đốm lửa thường nhỏ; anh để nó ở đúng phần việc của những người đang coi, giữ mắt trên con đường mình vừa nhận.