Tố đem chiếc thước tới trước bình minh, khi Bến Sậy chỉ còn ngọn đèn thường ở hiên. Duy đang ngủ gục trên bàn báo giá. Cô gõ lên cánh cửa, bảo nếu muốn xem bờ xa lúc nước ròng thì phải đi ngay, trễ một buổi lại chờ con nước sau.
Anh rửa mặt, lấy ván đo và phần cơm nguội còn lại. Hai người xuống thuyền cùng Kha. Mấy chiếc phao vừa sửa nằm ngay ngắn trong sương, nhưng Kha vẫn chèo vòng theo dấu mới kiểm, không đi tắt qua khoảng nước có vải buộc.
Bờ xa lúc này trông khác buổi Duy tới giữa trưa. Dải bùn rộng nhô khỏi nước, còn rãnh phía ngoài giữ được độ sâu. Tố đo từ cọc nghiêng về một chân đá thấp, nhờ anh ghi thời điểm và vệt nước. Họ chờ mặt trời lên, ăn cơm ngay trên thuyền, rồi đo lại khi dòng bắt đầu đổi.
Đến lần thứ ba, Duy thấy điều cô đang tìm. Hai nửa đường không thuận cùng lúc. Bờ gần đi được sớm, bờ xa phải đợi nước lên khỏi bãi; lúc phía xa vừa đủ mạn, khúc ngoài gần miếu lại xiết hơn. Nếu ép cả hai vào một giờ, anh phải bù bằng ánh cho một việc mà đáy và người lái chưa chịu.
Tố trải các vạch nước cạnh nhau. Cô đề nghị đặt điểm đèn ở chân đá đã kiểm, nối với phần neo có thể tháo chuyển đúng cách, mỗi ca chỉ một phía. Từ đó anh vẫn cần đi bộ và thuyền đưa qua giữa hai nửa, không có cách vừa đứng ở miếu vừa giữ cảnh báo bên kia.
“Tôi còn ca cũ sau bữa tối,” Duy nói.
“Thì phải đổi cùng những người đã nhận. Tôi không sửa giờ hộ anh.”
Kha tính thời gian đưa đèn qua, cộng kiểm dây và thử góc trước mở. Anh gạt ngay khoảng trống Duy định dành giữa hai ca: nó chỉ vừa đủ chèo thuyền không, chưa tính một người cuối về chậm. Muốn vận hành, phải chừa hẳn một quãng nghỉ và có chuyến thường cho người không kịp giờ.
Kỳ rà bảy ngày đã tới hai hôm trước, giữa lúc họ xử lý lại đường phao. Duy, Bách và những người dùng bến đã xem dầu, xác nhận tạm giữ lịch cũ với điều kiện đóng đường khi chưa kiểm xong. Không ai được hứa thêm bờ xa; cuộc bàn phần ấy hẹn sau khi Tố đủ số đo. Chiều nay, họ trở lại quanh bàn hiên để bàn tiếp. Bách đưa sổ dầu, đọc cả buổi ngừng vì phao mắc gỗ. Có người muốn trả lại phần góp tối không đi; có người bảo để mua dây. Họ tự chọn từng khoản, Duy không coi tiền đã vào bát là của miếu hết.
Anh trình hai khoảng giờ theo triều mà Tố vừa đo. Lịch ca bờ gần vẫn giữ nếu họ chưa thuận sửa; đường phía xa chưa mở. Muốn thêm nửa kia cần dời một số chuyến, có người phải đi sớm hơn, người khác chờ lâu hơn. Anh nói cả quãng mình không ở neo, lúc ấy chỉ còn ánh thường.
Người bán rau phản đối phải đợi tới tối muộn. Kha đưa ra đường vòng bằng thuyền nhẹ theo cọc thường ở dải trong, nơi anh và Tố đã đi thử ban ngày. Chuyến ấy không được đèn báo vật cản; phải có người quen luồng, đi ít tải và đóng lúc mưa lớn. Tiền công cao hơn một chút vì đường dài.
Duy không muốn đẩy cái khó sang một dòng chữ ngoài bảng, nhờ Kha chèo thử cho người dân xem trước khi họ chọn. Anh ta nhận, tính công nửa buổi. Người trong xóm xin ghép hai sọt rau vào thuyền cho biết mạn ăn nước tới đâu, nhưng lần đầu họ chỉ dùng bao cát đúng tải, chưa chở người bán.
Buổi thử thường ấy kéo qua ngày hôm sau. Họ cắm phao rõ màu, buộc đèn dầu có chụp ở hai đầu, thêm cọc cho người lái nhìn nối hướng. Người sửa thúng nhận một buổi coi bến, có người khác thay lúc về nhà. Mấy món nhỏ lấy hết phần tiền vừa giữ lại sau kỳ rà, Duy phải hẹn đơn sửa của mình giao muộn một ngày để có công bù.
Kha qua được ba lượt, trong đó một lượt ngược gió. Anh không hứa dùng được mọi đêm. Tố đánh dấu mực nước phải dừng trên cọc, ghi cả khoảng nước chưa đo, rồi để người lái chỉ lại đường cho mình nghe. Chuyến thường thành một lựa chọn có điều kiện, chưa là cái cớ để nhận người ngoài giờ vô hạn.
Cuối buổi, Duy mang đèn về miếu, trả mọi thứ về vị trí cũ trước ca bờ gần. Anh nhìn phần bảng còn trống dành cho bờ xa. Phương án đã có đường đi và người nhận công, song đầu cầu từ xóm ra điểm cập vẫn mới kê một đoạn. Tố đứng bên nhìn mấy thanh gỗ, nói sáng mai phải kiểm từng mối nối trước khi ai mang gánh lên.
Duy gật đầu, cất tấm ván chia giờ dưới sổ dầu. Tối ấy anh giữ nguyên lịch cũ, báo người tới hỏi rằng hai bờ chưa mở cùng nhau. Ngoài sông, phao của tuyến phụ chỉ lấp loáng ánh dầu. Kha đi một chuyến thường cuối ngày, đưa thuyền không về để sáng mai thử chỗ cập, còn Duy chờ người cuối của ca mình bước lên bậc mới ăn cơm.