Chiều hôm ấy, Dư Kha ghé miếu lúc Duy đang tháo chiếc quai đèn thứ hai. Anh đứng ngoài hiên nhìn một lúc, rồi hỏi có thể ngồi không. Duy kéo chiếc ghế còn trống về phía mình, chừa cho khách chỗ tránh nước dột từ máng mái.
“Tôi là Kha, bên hội lái. Hai người đón thuyền đêm qua có kể chuyện cậu.”
“Tiền công chuyến ấy tôi chưa tính được.”
“Đến nói việc đó thì tôi đã cầm giấy tính tiền.” Kha đặt mái chèo đang mang lên vách. “Tôi muốn xem đèn.”
Duy chỉ chiếc đèn ngoài cọc. Buổi trưa anh đã châm đủ dầu, nhưng không có vệt sáng nào trên phao. Kha bước xuống bậc, nhìn từ chỗ ngồi của người chèo rồi trở lên, hỏi đêm nay Duy có định thử không.
“Tôi muốn thử. Nhưng không biết thử thế nào cho khỏi mang người ra đánh cược.”
“Tôi đi một thuyền không, từ bậc đá tới phao cuối rồi về. Không chở khách, không hàng. Tôi cần cậu soi vật cản trên đoạn ấy, tới khi tôi buộc thuyền lại đây.”
Duy nhìn anh. Một người lái như Kha chắc đã đi qua đoạn này nhiều hơn anh, không cần được cứu. Kha nhướng mày như hiểu điều anh đang nghĩ.
“Đi quen cũng có lúc phải nhìn. Tôi xin việc đó, cậu nhận được chứ?”
Duy nhắc lại quãng thử, thời gian chỉ một lượt đi về. Anh nhận rồi chờ tới khi trời tối hẳn. Bách chứng kiến, mang ghế ra giữ dầu; việc đã kết buổi sáng không thể đem dùng tiếp, nên ông không đốt nghi thức gì thay cho lời hai người vừa nói.
Khi Kha đẩy thuyền đi, Duy đặt tay gần đế đèn. Vệt sáng bám dây phao hiện lại, yếu lúc đầu rồi rõ dần. Anh vui đến mức gọi Kha nhìn chiếc cọc có đầu gãy ngoài kia. Người lái không đáp. Thuyền đi hết nửa đoạn thì dừng, quay ngang rồi lùi về.
“Chói,” Kha nói khi cập bậc.
Duy tưởng nghe nhầm.
“Anh không nhìn được phao à?”
“Phao thì nhìn được. Mặt nước ngay trước mũi thuyền lại không thấy. Cậu soi thẳng vào mắt tôi.”
Duy xuống ngồi ở mũi thuyền. Từ chỗ đứng bên đèn, anh thấy ánh sáng phủ lên dây rất đẹp; từ mặt nước nhìn ngược, kính đèn thành một đốm trắng nhức mắt. Sau đốm ấy, mặt cọc và bờ bùn nhập vào nhau. Kha đặt sào ngang trước mũi, bảo anh chỉ đầu sào. Duy nhìn một lúc mới nhận ra.
Anh leo lên bờ, đỏ mặt vì nhớ mình vừa gọi người ta ngắm đèn. Bách giả vờ xem nút chai dầu, không cười.
Duy không di chuyển đế neo. Anh hạ miếng chắn kim loại phía mặt bến, xoay góc phản sáng của tấm đồng trong khung. Lần đầu hạ quá thấp, đoạn phao cuối tối đi. Anh phải chỉnh từng chút, xuống mũi thuyền xem lại rồi trở lên. Kha ngồi chờ, không giục nhưng cũng không khen hộ.
Đến lần thứ ba, đầu sào trên mặt nước hiện rõ mà mắt không bị lóa. Duy nhờ Kha đi lại lượt đã nhận. Người lái chống thuyền ra, tới phao cuối mới nâng mái chèo báo nhìn được. Lúc quay về, anh cố ý đi chếch sang mép trong, nơi có tấm ván cũ. Đầu đinh sáng thành một nét mảnh, đủ để anh tránh.
Kha cập bến và buộc dây xong, Duy để ánh tắt khỏi hàng phao. Ngọn lửa thường còn lại trong bình không làm anh thất vọng như buổi sáng. Ít nhất lần này anh biết ánh sáng đã giúp được chỗ nào.
“Còn cao một chút,” Kha nói. “Người ngồi thấp hơn tôi sẽ thấy khác. Mai thử bằng thuyền nhỏ.”
“Mai anh có rảnh không?”
“Sau chuyến chiều. Tôi tính công thử đấy.”
Duy hỏi giá, thấy không nhẹ nhưng trả được bằng một phần công sửa đèn. Kha bảo nếu chỉ định mời anh đứng vỗ tay thì khỏi thuê; còn muốn biết người lái nhìn thấy gì, anh sẽ nói cả điều khó nghe. Duy đồng ý. Anh lấy tiền đặt riêng vào một chiếc hộp nhỏ, tránh tiêu mất trước buổi thử. Kha bảo mang thuyền tốn cả một quãng rảnh giữa hai chuyến hàng; nếu Duy cần đổi giờ, phải báo trước để anh còn nhận việc khác.
Trước khi đi, Kha trả chiếc móc đôi chủ chuyến vớt nhờ mang. Duy nhận, quệt lớp bùn còn dính ở khớp. Anh hỏi họ có kéo được nhiều hàng không. Kha kể vài kiện gỗ, không thấy chiếc đèn nào có dấu Duy tả.
“Trưa mai có người đi qua Cồn Vạc,” Kha nói thêm. “Cậu cần lấy hộp thì buộc cái vải màu gì?”
Duy chỉ mảnh gấu áo đã xé. Anh nhờ lấy cả thân đèn rạn, dù nó hỏng. Kha gật, nhấc mái chèo khỏi vách rồi đi xuống thuyền.
Duy đứng nhìn tới lúc bóng thuyền khuất. Bách hỏi anh có tiếc công thử không. Anh lắc đầu, xoay miếng chắn để ghi nhớ góc vừa tìm được. Một vệt sáng sai chỗ có thể làm người ta mù đường; chuyện ấy anh đã biết khi sửa đèn thường, nhưng đến hôm nay mới chịu ngồi xuống chỗ người phải nhìn nó.