Buổi mở tuyến công không có thêm người tới xin đặt tượng. Có hai sọt rau, một gánh lưới vá và mấy người đi nhận hàng. Bách treo bảng giờ đã sửa ở đầu bậc, Kha đọc cho người không quen chữ, Tố xem mực nước rồi gạch bớt một lượt buổi sau vì triều đổi sớm.
Duy ngồi cạnh bàn, nghe từng người hỏi cách đi. Đợt thử trước đã đủ điều kiện cho lịch giới hạn tiếp tục; họ xác nhận phần mình còn cần, người chưa dự cũng được nghe phạm vi rồi chọn chuyến. Chỗ nào ngoài khảo sát vẫn để trống. Một người hỏi có phải từ nay Bến Sậy giữ cả hai bờ suốt đêm, anh đưa ngón tay vào quãng nghỉ giữa hai ca.
Chiều xuống, việc chạy qua hai phía giống đêm trước, có vài lần chậm nhưng không ai sửa bằng cách gọi anh chia lực. Bờ ngoài ca giữ lửa thường, đường phụ có người lái, công đã đặt riêng. Khi tới lượt xa, Duy thu ca gần xong mới chuyển, đợi kiểm đủ rồi mở. Những người quen dần thôi gọi ánh khi mới thấy thuyền anh ở giữa dòng.
Cuối ca, một người đánh rơi chiếc móc nhỏ xuống bùn. Duy bảo ghi vị trí, sáng sẽ tìm bằng sào, không kéo lượt đêm thêm vì một món đồ. Người ấy nhìn lịch đóng, gật đầu. Tất cả về chỗ cập, người coi cầu thu tấm ván bước cuối, anh kết phần dẫn rồi thắp đèn tay thường để cùng Kha đưa bộ đèn về.
Đêm ấy còn một quãng nước đổi đúng lúc mảnh đồng từng rung. Duy đã nhờ Tố đi cùng sau giờ tuyến, nói rõ chỉ muốn kiểm vật và dấu nền, không lặn. Cô nhận một buổi ngắn, mang dây đo; Kha giữ thuyền ở phía trong dải có vải dấu. Bách ở miếu coi dầu, biết họ đi đâu và lúc nào phải về.
Không có lời cầu soi đường mới trong chuyến ấy. Họ dùng sào, dây mốc và lửa thường, chỉ tới phần ngoài đã đo được. Duy không đem quyền của ca vừa kết đi chiếu xuống nơi chưa biết. Mảnh đồng bọc vải nằm trong hộp gỗ nhỏ, được lấy ra khi thuyền đã buộc chắc vào cọc kiểm.
Anh nhúng nó bằng nước ngay cạnh mạn, đặt lên thanh gỗ khô. Ban đầu không có gì. Tiếng chèo của một chuyến xa vọng lại rồi mất, trên bờ có con chó sủa. Duy nhìn dấu nước Tố đọc, cố không tự nín thở tới mức nghe tiếng mạch máu trong tai thành một tiếng khác.
Một nhịp rung tới qua đầu ngón tay.
Tố bảo giữ nguyên vị trí. Kha chống sào, không để thuyền quay theo dòng. Mảnh đồng chạm mặt nước thêm một chút, phát tiếng ngân khàn. Duy cúi gần, nghe trong đó một âm đứt, thấp hơn tiếng kim loại anh đã thử ở miếu.
“Đừng…”
Anh ngẩng phắt lên, suýt đụng đầu Tố. Cô đang nhìn mảnh đồng, chưa nhìn anh. Kha hỏi ai nói. Duy đưa tay ra hiệu khoan, giữ cánh ở đúng độ ngập ban nãy; ngón tay lạnh đi, còn cái tên cha đã lên tới cổ họng nhưng chưa thành tiếng.
Rung kéo dài qua một nhịp nước. Lần này những âm rời ghép được với nhau, như người nói bị ngăn bởi một vách dày.
“Đừng kéo chốt.”
Sau đó chỉ còn tiếng rè. Duy đổi tay đỡ vì cánh trượt, tiếng mất hẳn. Anh đặt lại mà không tìm được ngay góc cũ. Tố giữ cổ tay anh, nhắc ngừng xê mọi thứ, ghi đã rồi thử một lần đúng điều kiện vừa có. Anh nhìn cô, nhận ra mình đang bóp mép đồng tới trắng ngón.
Họ làm lại, cùng chỗ, cùng độ ngập, nhưng dòng đã đổi. Cánh rung thêm hai tiếng không thành lời rồi im. Kha hỏi có phải tiếng người dưới nước. Tố nói mình nghe được chữ chốt, còn chưa biết tiếng tới từ đâu. Duy đã nghe đủ cả câu, nhưng khi nhắm mắt để nhớ giọng, anh chỉ còn một âm khàn lẫn với điều mình muốn.
Anh không gọi cha xuống nước. Anh chưa biết cách đưa lời mình tới, cũng chưa biết ai có thể đáp. Anh hỏi hai người đã nghe gì, để họ nói trước khi đọc lại câu của mình. Tố ghi từng phần khác nhau, vị trí thuyền, giờ triều và góc mảnh đồng. Kha nhắc lúc có tiếng mũi thuyền đứng hướng về vải dấu cũ.
Tới giờ hẹn, họ thu đồ. Duy muốn ở lại thêm một lượt nước, nhưng lượt ấy sẽ sát sáng và anh còn ca ngày sau. Anh nhìn dải nước tối, buộc hộp cẩn thận, nhờ Kha đưa về. Không ai nhận lời sẽ bới chỗ có tiếng hoặc kéo một cái chốt chưa thấy.
Bách chờ dưới hiên, nghe kể xong cầm hộp bằng cả hai tay. Ông hỏi Duy có nhận ra giọng không. Anh im lâu, rồi đáp chưa chắc. Ông không biến cái chưa chắc ấy thành lời mừng, chỉ dọn chỗ khô cho hộp và đun lại nước.
Duy đặt bản đo cạnh lịch ca. Anh chừa buổi sáng nghỉ đã hẹn, tìm một khoảng khác để gặp người biết lối dưới bờ; không gạch tên người đang cần đèn khỏi ngày mai. Trên tờ giấy mới, anh viết nguyên câu đã nghe, bên dưới ghi chưa rõ người nói, nguồn tiếng và cái chốt nào. Viết xong, anh vẫn nhìn ba chữ đầu rất lâu. Lần đầu sau ba năm, anh có một tiếng để đi kiểm, và việc đầu tiên tiếng ấy bảo anh làm lại là dừng tay.