Sáng cuối đợt thử, Bách dọn chiếc bàn sửa đèn ra hiên. Trên bàn có mảnh ván ghi đường cũ, bản mới vẽ từ hôm qua, sổ dầu và chiếc bát đựng tiền còn lại. Duy định kéo bàn vào trong cho đỡ nắng, nhưng ông già bảo người góp dầu cần nhìn được thứ họ đã dùng.
Kha tới sau chuyến chở nhẹ qua đường mới. Anh báo thuyền đi được, không mắc đáy, song khúc cua phải chờ nhau từng chiếc. Chủ hàng hôm qua cũng tới, mặt còn khó chịu; ông đã trả thêm tiền khuân, không vì thuyền đi được mà quên khoản ấy. Duy ghi cả việc đó, để lần sau không coi đổi đường chỉ tốn vài cái phao.
Người đàn bà áo tơi ở Cồn Vạc đem theo một nắm bấc đã phơi khô. Bà ngồi cạnh ông cụ, hỏi Duy chân đã lành chưa. Anh bảo đỡ hơn, giơ cho bà xem lớp băng sạch. Ông cụ chống gậy mới, không đi xuống bậc nữa, chỉ ngồi nhìn đứa cháu giúp Bách rửa bát.
Họ không tới để xin một đêm cứu hộ khác. Từ chuyện đèn và những chuyến thuyền chậm, người dùng bến muốn biết tối nào có thể dựa vào nó, tới giờ nào phải tự lo lối về. Kha trải bản phao mới, bảo hội lái có thể báo cho thuyền tới, nhưng cần giờ chắc chắn để không đưa khách ra khi đèn đã hết ca.
Duy nhìn sổ của mình. Tuần vừa qua, có đêm anh đi tìm người, có đêm thử góc kính, có đêm mất cả buổi vì dây trộm. Anh đã tranh thủ sửa hai chiếc đèn trả nợ, nhưng không thể tối nào cũng ngồi ngoài bến đến sáng.
“Tôi giữ được một canh đầu đêm,” anh nói. “Ban ngày còn phải sửa đồ và đi dò. Mấy hôm nước đổi như hôm qua thì phải báo đóng đường.”
Người trông kho muốn thêm cuối đêm để tiện nhận hàng. Một người lái đề nghị bắt đầu muộn hơn cho thợ ăn cơm xong. Bách không trả lời hộ Duy, chỉ rót nước. Anh nghe từng người, cuối cùng cùng Kha chọn bắt đầu sau bữa tối, báo bằng đèn thường treo ở cọc bến, giữ đúng một canh rồi ngừng nhận lượt mới.
Người đã ra trên đoạn nhận dẫn vẫn phải về chỗ an toàn trước khi ánh tắt. Vì thế hội lái phải hạn người vào gần cuối ca, không đẩy thêm thuyền xuống để bắt Duy kéo dài vô hạn. Kha nhận phần báo và giữ lối lên, nhưng nói công chèo vẫn phải tính riêng theo chuyến.
Bà áo tơi hỏi có phải ai muốn dùng cũng nộp tiền cúng không. Duy lắc đầu. Dầu và tiền cọc phao là khoản mọi người cùng lo theo khả năng, chưa đủ thì báo thiếu; việc dẫn còn phải xem đoạn đường và số thuyền. Bát tiền trên bàn không thay được cây cọc ngoài bãi.
Cuộc bàn không xong chỉ bằng một vòng gật đầu. Chủ hàng muốn được chắc giờ, người lái muốn chắc công, Bách cần người giúp châm dầu khi Duy bận tay. Họ ghi ai mua dầu, ai giữ thước, ai báo lúc đóng tuyến. Miên tới ngang cửa, Duy chỉ hỏi em có muốn ngồi uống nước không, không đặt tên em vào phần trực kính.
Em xem chiếc khung mới lắp, hỏi anh đã trả tiền mài chưa. Anh đưa giấy nhận, Miên nhìn rồi cười, đứng ngoài nghe thêm một lúc trước khi đi học. Cái chỗ anh định giao sẵn cho em ở bàn cuối cùng vẫn để trống.
Đến chiều, đại diện những thuyền sẽ đi cùng vài người dùng bãi trở lại. Kha nói rõ họ xin Duy giữ đèn dẫn trên tuyến phao đã khảo sát, một canh mỗi tối theo lịch vừa bàn, bắt đầu từ hôm nay. Sau bảy ngày họ cùng xem lại dầu, người và độ an toàn; đổi luồng thì dừng nhận lượt để đo lại, còn người đang trên đường phải được đưa về.
Duy hỏi những người sẽ đi có hiểu cùng một tuyến không. Họ chỉ cọc rẽ, phao gần gò và bậc lên. Anh nghe xong mới đáp nhận. Bách viết ngày vào sổ, đặt nó cạnh hộp dầu. Không có ai phải quỳ xuống mới được tính là người cần ánh sáng.
Tối đó, Duy thắp đèn. Kha đưa thuyền đầu tiên qua khúc cong, chờ chiếc sau giữ đủ khoảng mới đi tiếp. Bên hiên, một người giúp Bách rót dầu dự phòng vào chai nhỏ. Tiếng bát đũa đã dọn vang trong gian sau, còn Duy ngồi cạnh cọc, lần đầu có một buổi làm việc biết rõ lúc bắt đầu và cách kết.
Gần cuối ca, hai người từ hai phía bến cùng tới. Một người muốn soi mép bãi trong để nhận hàng, người kia cần ánh sang bờ đối diện cho thuyền cập. Họ đều chỉ những chỗ đang tối, đều nói chỉ mất một lát.
Duy nhìn chiếc thuyền cuối còn giữa phao, chưa đáp nhận thêm. Anh đưa ánh giữ nó qua cọc rẽ trước. Hai khoảng tối vẫn nằm hai phía, và người đứng chờ vẫn nhìn anh. Anh mời họ ngồi xuống, bảo mình phải đưa xong chuyến này rồi mới cùng xem việc tiếp theo.