“Người biết chèo còn ai?” Duy hỏi.
Người đàn ông cầm sào giơ tay. Người cha trẻ cũng gật, nhưng nhìn xuống đứa con đang nằm trong lòng vợ rồi thôi. Người đàn bà áo tơi bảo mình chống thuyền được nếu có mái chèo ngắn.
“Thế cậu hỏi làm gì nữa?” người cầm sào nói. “Cho ông cụ xuống, rồi quay lại lấy chúng tôi. Trời sắp hết đêm mất.”
Duy nhìn phía bến. Bóng miếu vẫn đen, chưa có vệt sáng báo ngày. Nhưng nước lên nhanh hơn anh tính; chỗ rổ cá khi nãy đã ngập đến quai. Anh cũng muốn bế ông già đi ngay. Chỉ có điều chiếc thuyền nhỏ của anh phải qua rãnh, còn những người ở gò không thể cứ ngồi chờ một lời hứa mà anh chưa biết thực hiện ra sao.
“Tôi cần bà với bác chỉ hết những chỗ vừa đi qua,” anh nói. “Đèn dẫn được đoạn đã dò. Ngoài ấy tôi chưa biết còn ai.”
“Cả bãi đều cần về chứ còn ai!”
“Bác có biết cả bãi đang ở đâu không?”
Người đàn ông im một nhịp, rồi lắc đầu, bực bội quệt nước trên mặt. Duy không hỏi dồn. Anh đưa sào cho ông, chỉ chỗ cành sậy buộc chéo dưới gò.
“Từ đây đến đấy bác đi được chứ?”
“Được. Tôi vừa kéo ông cụ lên lối ấy.”
“Vậy bác chỉ tôi phần mép bên kia. Tôi đưa người đúng đoạn này ra bến, còn thuyền phải gọi thêm.”
Người cha trẻ đứng lên. Anh ta đưa con lại cho vợ, lội xuống theo Duy. Ba người dò quanh chân gò, phát hiện một chỗ mép đất thoải có thể áp mạn. Nó hẹp, chỉ đủ một người bước xuống mỗi lần, nhưng tránh được hố. Duy cắm sào ở hai đầu, kéo thuyền vào thử rồi quay lại đón ông già.
Ông cụ không chịu để người khác bế. Đến khi bước chân lành xuống đất, chân đau khuỵu theo, ông mới nắm vai Duy. Người cầm sào đỡ bên còn lại. Họ đưa ông xuống được mép thuyền, đặt ngồi trên áo gấp, dùng bao lưới kê chân.
Người mẹ trẻ theo tới, hỏi nhỏ:
“Thuyền sau có thật tới không?”
“Tôi phải về bến gọi.”
“Vậy xin cậu đưa mẹ con tôi về nữa. Tôi không dám lội bế nó. Chúng tôi ở đây, không đi chỗ khác.”
Duy nhìn chỗ ngồi còn lại. Đứa bé vừa tỉnh, há miệng khóc mà tiếng khàn đặc. Anh hỏi người cha có đồng ý để vợ con xuống cùng ông cụ, còn mình đợi ở gò với người cầm sào không. Anh ta nhận ngay, nhưng người mẹ vẫn giữ tay chồng.
“Đón cả anh ấy nữa, cậu nhé.”
“Anh ở lại đây,” người cha nói với Duy. “Nhờ cậu dẫn tôi về trước sáng, cùng họ.”
Người đàn bà áo tơi bước tới. Bà cũng xin được về bến bằng lối ấy, rồi quay sang người cầm sào. Ông thở ra, thôi giục.
“Tôi cũng nhờ. Tôi đợi cùng cậu này, giúp đưa người xuống.”
Duy nhắc lại từng người đang ở đây, con đường ra thuyền và bến họ sẽ lên. Anh không biết dưới bãi còn người nào khác; nếu gặp, anh sẽ xem việc cụ thể rồi mới nhận. Người cầm sào cau mặt khi nghe tới đó, nhưng nhìn vợ chồng trẻ, ông cuối cùng gật đầu.
“Tôi nghe rõ. Cứ cứu được mấy người ở đây đã.”
Duy nhận đưa nhóm trên gò về Bến Sậy trước sáng, cùng chuyến đón ông cụ. Không có tiếng sấm hay ánh sáng dội lên. Chiếc đèn trong tay người đàn bà vẫn phải che gió. Chỉ khi anh đặt nó sát lối đã dò, ánh lửa thường trong chén thiếc rọi lên cây sào đánh dấu hố, giúp người mẹ biết đặt chân ở đâu.
Anh nhờ bà giữ chiếc đèn ấy ở mép gò. Bà và hai người đàn ông sẽ đợi chuyến thuyền sau. Bà hỏi có cần châm thêm dầu không; Duy nhìn đáy chén thiếc, dặn tắt lửa trước, rót tới nửa rồi đốt lại, đừng để tràn. Bà làm ngay trước mặt anh, chậm nhưng chắc. Duy chờ bà treo lại khung đèn cho cân. Anh nhắc hai người đàn ông đừng dời các cây sào, bởi thuyền trở lại sẽ tìm lối theo chúng.
Người mẹ xuống thuyền sau cùng. Duy đặt đứa bé vào lòng bà rồi đẩy mũi thuyền khỏi bùn. Mạn chìm thấp hơn lúc đến, nước chỉ cách mép một bàn tay. Anh bỏ ý định đứng chống, ngồi xuống chèo, tránh khiến thuyền nghiêng.
Từ gò ra chiếc phao cuối, anh đi đúng những dấu mình đã cắm. Có đoạn phải dừng, dùng mái chèo đẩy cây sậy nổi sang bên. Người mẹ giữ con thật yên, mắt không rời vai anh. Ông cụ ngồi trước mũi, mấy lần muốn hỏi cháu rồi lại nín khi thấy Duy nghe nước.
Qua được tấm ván có đinh, hàng phao sáng hiện ra trọn vẹn. Trên bờ có tiếng đứa trẻ gọi ông, vỡ giọng vì mừng. Duy ngẩng lên định báo còn người thì thấy chân đèn ở bến chao một cái. Vệt sáng trên dây cùng chao theo, quét ngang mặt nước rồi hạ thấp, khiến đầu chiếc phao trước mặt anh chìm vào bóng.