Sáng hôm sau, hai người chờ đèn tối qua trở lại cùng một chiếc thuyền không. Người nhận hàng muốn soi dải nước phía bãi trong; người bên kia chỉ cần thấy những cọc cũ để cập bờ. Duy đi cùng họ xem đường. Cả hai đoạn đều gần miếu, nhưng từ chân đèn nhìn ra, đầu doi bùn che mất chỗ hai đường rẽ khỏi nhau.
Anh chưa nhận thêm lịch. Bảy tối của Bến Sậy đã có giờ, còn việc này phải thử khi không có khách. Kha buộc thuyền vào cọc, bảo hai người muốn xem thì xuống cùng, đừng đứng trên bờ rồi tưởng khoảng tối nào cũng giống nhau.
Đến trưa, Duy dò xong hai đoạn ngắn. Anh kéo thước từ cọc rẽ, ghi chỗ đáy cứng và khoảng nước sâu vào ván. Phía bờ xa có một cọc nghiêng còn dùng được sau khi gia cố. Anh lấy đoạn dây cũ nối nó với hàng phao, định cho ánh chia từ chân đèn ra hai hướng.
Bách ngồi giữ cuộn dây trên bậc. Thấy Duy mang thêm một miếng đồng xuống, ông hỏi:
“Cháu đặt thêm cái chân, hay sửa cái chân đang có?”
“Thử cho nó dẫn sang hai bên. Nếu chỉ đổi góc kính thì bên này sáng, bên kia khuất.”
Ông già gật đầu, không bảo sẽ được. Duy cạo lớp rỉ trên miếng đồng, áp nó vào giá đang giữ đèn. Chỗ hàn cũ chưa liền, anh phải tháo ra làm lại. Tiền mua dây mới vẫn chưa có; sợi nối thử được Kha cho mượn tới chiều, phải trả trước chuyến hàng của hội.
Gần xế, hai người dùng bến nói rõ họ xin thử soi hai đoạn vừa dò, chỉ trong lúc chiếc thuyền không đi ra rồi quay lại. Không chở người ngoài, không nhận hàng. Duy nhắc đường rẽ và dấu dừng, nghe họ xác nhận mới đáp nhận lượt thử riêng. Ca tối ở Bến Sậy chưa bắt đầu.
Lửa lên khỏi bấc, kính hắt một vệt vàng xuống phao. Duy hướng ánh sang cọc nghiêng trước. Những bám bẩn trên dây hiện ra rõ, đến cả búi rong mắc dưới nút buộc cũng có bóng riêng. Anh thấy mình đã đặt đúng, bèn đưa thêm phần ánh về phía bãi trong.
Vệt trước mỏng đi.
Kha đang chèo thử lập tức ngừng tay. Anh giơ sào chỉ cọc rẽ, hỏi Duy có nhìn thấy chỗ gỗ nằm ngang dưới nước không. Từ bến, Duy chỉ thấy một vệt đen lẫn trong bóng cọc. Anh dồn lại thì thanh gỗ hiện rõ; bên bãi trong lại tối.
“Chưa đi nữa,” Duy gọi.
Anh chỉnh góc kính lần thứ hai. Hai vệt cùng có, song đều nhợt như ánh đèn qua lớp kính ám khói. Mặt đế nóng lên, mùi nhựa buộc dây hăng hắc bốc tới mũi. Duy rút tay khỏi giá, bảo Kha quay về theo đường đã kiểm bằng sào.
Người nhận hàng đứng cạnh anh vội nói mình có thể xin thêm một lời. Duy lắc đầu, mắt vẫn dõi chiếc thuyền. Lời xin vừa rồi đã nói đủ hai phía; điều đang thiếu nằm ngay dưới bàn tay anh. Anh thu phần sáng bãi trong về, giữ một đường cho Kha qua cọc rẽ rồi cập bậc.
Khi hai người lên hết, anh kết lượt thử, tắt đèn. Miếng đồng còn ấm rất lâu. Vệt nhựa ở nút buộc đã mềm ra, để lại một đường sẫm trên đầu ngón tay. Bách mang bát nước tới nhưng không dội lên giá; hai người chờ nó nguội rồi mới tháo.
“Hai cái đèn thì sao?” người bờ xa hỏi.
Duy nhìn chiếc đèn thường treo ở hiên. Anh đã nghĩ tới nó trước khi xuống nước, đến lúc ấy vẫn chưa muốn bỏ cách thử nhanh nhất. Anh đem đèn ấy đặt ở cọc nghiêng, châm dầu cho mọi người xem. Nó soi được mạn thuyền và mấy mặt cọc gần, không cho anh biết thanh gỗ ở chỗ rẽ.
Kha chèo ra một đoạn, trở về với chiếc sào ướt.
“Lửa này tôi dùng được,” anh nói. “Nhưng phải dò như mọi hôm. Đừng báo với khách là có cùng một thứ ở hai bên.”
Người nhận hàng thở dài. Ông đã tính chuyến tối khỏi phải vòng qua bến lớn. Duy trả lại cuộn dây, xin giữ hai đoạn đã đo để tìm cách khác. Anh không hẹn ngày mở. Người bờ xa cầm đèn thường lên soi vết kính, hỏi giá sửa một chiếc có chụp chắn gió, rồi hai người đi bàn chuyến của họ.
Bách đem miếng đồng phụ ra nắng, chỉ chỗ mặt tiếp xúc đã thâm lại. Duy đánh dấu bằng mũi dao, để lần sau không tưởng lỗi chỉ ở kính. Anh ghi bên cạnh bản đo rằng chưa được chở người qua hai hướng. Kha đọc, thêm một dòng nhắc người lái kiểm đèn báo mở trước mỗi chuyến, rồi đặt ván ngay cửa để cả người tới muộn cũng thấy.
Chiều ấy Duy tháo miếng đồng phụ khỏi neo. Mép dây đã xơ vì bị siết, phải cắt bỏ một đoạn trước khi trả Kha. Anh lấy tiền công sửa đèn còn để riêng mua bù dây; Kha nhận, không nói vài gang dây đáng bao nhiêu mà thôi đi.
Đến tối, ca Bến Sậy chạy như lịch cũ. Duy chỉ giữ đường phao đã nhận, đợi chiếc cuối vào bậc mới thu ánh. Phía bờ xa có một ngọn lửa thường nhỏ bằng hạt đậu, lúc hiện lúc khuất sau mũi thuyền. Anh nhìn nó một lúc, rồi đem ván đo vào trong. Trên ván, hai đường cùng bắt đầu ở miếu. Anh đặt thước giữa chúng, chưa tìm được cách cho cả hai tới nơi cùng một giờ.