Tiếng đáp đến từ sau một vạt sậy cao quá đầu. Duy đi về phía ấy, giữ đèn thấp để nhìn mặt đất. Chưa hết mười bước, chân anh đã lún sâu. Người đàn bà phía sau vội nắm vạt áo anh, nhưng Duy giơ tay ngăn bà bước tiếp.
“Đứng bên gốc kia. Chỗ này vừa sụt.”
Anh rút chân lên, bỏ lại một chiếc dép trong bùn. Phải dùng sào moi một lúc mới lấy được. Tiếng ông già vẫn vọng sang, song mỗi khi gió đổi lại tưởng phát ra từ hướng khác. Duy soi quanh. Một dấu gậy nằm ở mép trái vũng bùn; chính anh đã đi chệch khỏi hàng dấu để theo tiếng gọi.
Anh vòng trở lại. Dấu gậy sau sâu hơn dấu trước, đầu tròn có khía mà mắt thợ dễ nhận. Bên phải là vệt dép kéo lê; tới gần bụi sậy, vệt ấy ngoặt gấp. Duy cắm một cành khô ở chỗ rẽ rồi hỏi người đàn bà có biết đường lên gò không.
“Qua gốc cây có rễ lồi. Nhưng nước thế này, tôi không chắc.”
Anh đi tìm rễ cây thay vì đoán lối. Đèn đưa sát xuống làm nổi những sợi rễ nâu trơn, kèm một mẩu vỏ mới bong. Có người vừa dùng gậy chống lên đây. Duy lần theo rễ, bước được lên một doi đất cứng. Tiếng ho nghe rõ hẳn.
“Ở đây!” một người đàn ông gọi. “Đừng sang bên phải, có hố!”
Duy dừng ngay trước miệng hố. Nước đục lấp gần đầy, trên mặt có lá sậy nổi nên thoạt nhìn giống đất. Anh lấy sào dò bờ bên trái, rồi mới bước vòng qua. Bên kia vạt cây, một gò đất hiện ra, nhỏ hơn anh tưởng.
Ông già ngồi tựa vào bao lưới. Một ống quần của ông xắn cao, lộ cổ chân sưng. Cạnh ông là người đàn ông đang giữ cây sào và một đôi vợ chồng ôm đứa con nhỏ. Họ quây quanh chiếc áo tơi trải dưới đất; ở giữa có mấy con cá và một nắm củ ướt.
“Cháu ông đang đợi bên miếu,” Duy nói.
Ông già ngẩng đầu, môi run.
“Nó chạy đi tìm tôi à?”
“Nó nhờ cháu sang đón.”
“Đã bảo cứ về với mẹ...”
Ông bỏ dở câu, chống tay định đứng. Người đàn ông bên cạnh đỡ nhưng ông vừa chạm chân xuống đã nhăn mặt. Duy đặt đèn lên chỗ đất phẳng, ngồi xem cổ chân. Không thấy vết thương hở; da sưng căng quanh mắt cá. Anh không dám nắn, chỉ hỏi ông có bước được bằng chân kia không.
“Lúc đầu còn đi được. Tôi thấy sáng ngoài ấy, tưởng đường cũ.” Ông chỉ xuống mép gò. “Vừa xuống thì chân vẹo. May có họ kéo lên.”
Duy nhìn theo. Từ đây, ánh sáng dọc phao ở bến nằm sát chân trời thấp, chập lại thành một vệt. Người đứng trên cồn có thể tưởng nó gần và thẳng hơn thực tế. Đoạn giữa là rãnh anh vừa lội qua, không phải doi bùn cũ.
Anh xê chiếc đèn chắp vá ra sát mép gò để mọi người nhìn được gốc sậy cạnh lối lên. Vệt sáng ở bến không giúp ông già tự tìm đúng lối. Nếu anh chỉ ở trong thuyền mà gọi, rất có thể ông sẽ lại cố bước xuống.
Người đàn bà vừa dẫn anh tới ngồi phịch cạnh bao lưới. Bà nhận người đàn ông cầm sào là người quen ở bãi, hỏi sao ông chưa về. Ông giơ bàn tay dính bùn.
“Tôi đỡ ông cụ rồi ở lại. Hai vợ chồng này vừa sang thì nước cắt. Gọi ra ngoài chẳng ai nghe.”
Duy nhìn mặt nước dưới chân gò. Một cọng cỏ bị sóng đánh nghiêng, chìm rồi nhô lên. Những dấu dép thấp hơn đã mất. Anh chưa biết nước sẽ lên tới đâu, nhưng không thể ngồi đợi cho nó trả lời.
“Thuyền cháu ở dưới gốc cây. Cháu dìu ông xuống trước.”
“Còn chúng tôi?” người cha ôm con hỏi ngay.
“Để tôi xem chở được mấy lượt.”
“Cậu mang đèn sang rồi, dẫn cả đi luôn được chứ?”
Duy định nói được. Nhìn đứa bé ngủ gục trong tay mẹ, anh lại cúi nhìn chiếc thuyền thấp thoáng ngoài sậy. Chỉ riêng ông già cần người đỡ đã chiếm gần hết một lượt. Lối vừa tìm đủ cho anh lội, chưa chắc đủ để người khác bế con bước theo.
Anh nhờ người cầm sào giữ đèn, tự đi xuống dò một đoạn từ gò tới thuyền. Tới chỗ hố, anh dùng hai cành sậy buộc chéo, cắm lên mép. Lần trở lên, anh chọn lại lối sát rễ cây cho ông già có chỗ vịn. Mỗi việc mất thêm chút thời gian, và trên gò tiếng giục bắt đầu dồn.
“Không mang thuyền lên gần hơn được à?” người mẹ hỏi.
“Có hố và rễ chìm. Tôi đang tìm chỗ áp mạn.”
Duy vừa nói vừa đưa tay đỡ ông già ngồi thẳng lại. Người ông lạnh buốt. Anh kéo vạt áo tơi che đầu gối cho ông, bảo ông chờ thêm một lát. Lần này anh không quay đi ngay. Anh cần biết rõ ai sẽ xuống cùng mình, ai có thể giúp, trước khi hứa thêm với những người đang nhìn chiếc đèn.