Tố đặt hình chép của người thợ cạnh bản đo mặt vách. Hai tờ không khít. Mép đá ông nhớ cao hơn dấu dây họ đã lấy gần một gang, còn bậc đặt chân có thể đã bị bùn lấp. Duy định xoay tờ giấy cho trùng đường cong, cô giữ tay anh lại.
“Đừng ép nó đúng. Xuống xem cái nào còn.”
Họ thuê dây thêm một buổi, mang que dò đầu tròn, túi hứng bùn và một ống tre ngắn để thử, không đem xà beng. Kha hỏi nếu gặp lối trống thì có vào không. Duy nói hết chiều dài dấu đã định phải quay lại. Anh nhắc cả phần ấy trước khi ngồi lên mạn, để mình không thể bảo dưới nước đã hiểu khác.
Buổi lặn nằm giữa hai ngày trực đèn. Ca tối trước đã kết khi khách cuối lên bờ; hôm nay đường thường có người lái nhận chuyến riêng và bảng không có cảnh báo phép. Duy ngủ hết buổi sớm, ăn rồi mới ra. Tố nhìn sắc mặt anh xong mới cho thuyền rời cọc.
Dưới vách, bậc đá còn đó, nằm sâu hơn bản nhớ của ông già. Duy chỉ đặt đầu ngón chân lên để xác định, không dùng nó đỡ cả người. Bên trên bậc là miệng lối cũ, bị hai tảng lớn gác chéo. Sau chúng, những mảnh nhỏ chen kín như nêm. Bùn phủ ngoài khiến từ xa khó nhận ra đâu là một phiến, đâu là nhiều vật đè nhau.
Anh dùng que thăm mặt ngoài, thấy dòng nước lùa qua một dải bùn sát bên phải. Mỗi lần triều đẩy, bột bùn nhấc lên rồi lắng. Đường nứt hôm trước chạy về đây. Duy bỏ hẳn ý chạm tảng lớn, lấy ngón tay gạt lớp bùn rời ở mép ngoài, hứng vào túi để khỏi che mắt.
Khe hiện ra chỉ rộng vài ngón tay. Phần trong gấp ngang, anh không thấy tới cuối. Đặt đầu ống tre vào, anh cảm nhận một luồng rung khác tiếng nước ngoài tai. Anh rút ra sau đúng một lần thử, đánh dấu trên dây rồi quay lên.
Tố nghe kể, yêu cầu vẽ cả vật chèn. Duy ướt tay, nét than cứ nhòe. Anh rửa tay, lau khô rồi làm lại: hai tảng gác, phần nhỏ chèn dưới, khe mới ở mép ngoài. Tố gạch lối bảo trì cũ bằng nhiều nét đặc. Không ai được hiểu một đường trên giấy là đường đang đi được.
“Có cần cạy bớt chỗ này không?” Kha chỉ lớp đá vụn.
“Chưa biết nó giữ cái gì,” cô nói. “Chạm vào, nước đổi phía trong thì người dưới chịu trước.”
Họ thả một ống nhỏ khác có đầu bịt kín bằng màng mỏng để nghe rung, cố định ngoài khe bằng dây riêng. Phần bùn rời được gạt thêm rất ít; Duy không khoét vào đá. Khi đầu ống đi quá khúc gấp đầu, bọt khí nhỏ trườn ra rồi tắt. Anh ngừng, kiểm dấu nước và lên báo, không báo với cả thuyền rằng đã có đường thông.
Lượt sau ngắn hơn. Họ thử mức ống vừa đủ qua góc, không đẩy sâu bằng lực. Tố giữ dấu phía trên, Kha canh dây. Anh cố định đầu trong rồi trở lên, nối đoạn ngoài để cùng Tố nghe trên thuyền. Qua ống, Duy nhận được tiếng gió kín và từng giọt rơi, khác với tiếng ù anh nghe lúc lặn. Anh nhắm mắt, chờ một tiếng người, chỉ nghe hơi thở mình dội ở miệng ống.
Anh nói phía sau có chỗ chứa khí. Tố sửa: họ nghe được khoảng khí, chưa biết rộng bao nhiêu hoặc đủ cho ai sống. Cô nói ngay cả điều này cũng phải kiểm lại khi thay ống, vì bọt mắc trong khe có thể đánh lừa. Duy nóng ruột nhưng không cãi. Anh đã tận tay chạm đá lạnh, sự chắc chắn dễ có trên bờ không còn.
Họ đối chiếu với lời người thợ trong lần ghé trả đồ. Ông chỉ một lỗ nước nhỏ trên hình, bảo nó vòng lên rồi quặt xuống; cá nhỏ từng lọt qua đó. Một đường khác là giếng khí cũ, hẹp ngang bàn tay và ngoằn ngoèo. Không đường nào cho người bò qua. Ông nhìn chỗ ống mới Duy ghi, nói trước kia chỗ ngoài ấy vẫn bị lớp bùn kín, có lẽ dòng mới đổi đã xói mỏng đi.
“Vậy có thể nghe người bên kia?” Duy hỏi.
“Có thể thử. Chứ tôi không hứa có người.”
Chiều về, anh cắt phần tre nứt ra khỏi ống, thử mối nối trong chậu. Bách giữ đầu kia, mỗi khi nước rỉ vào thì gõ báo. Họ mất gần cả buổi cho một mối bọc da không kín. Miên chưa thể về, gửi lời qua chuyến đò rằng kính phải có vỏ chịu nước, đừng buộc một mảnh trần vào đầu gậy.
Duy đọc lời nhắn hai lần rồi cất cùng giấy đo. Anh nhờ chuyến đò trả lời rằng sẽ thử độ kín trong chậu trước, cần bao nhiêu tiền vật liệu cứ ghi để anh thu xếp. Khe đã có chỗ luồn ống, lối lớn vẫn kín đá; ở giữa hai việc ấy là cả một khoảng anh chưa biết. Tối đó, thay vì ghi đã tìm thấy đường vào, anh ghi có thể đặt đầu nghe, bên dưới chừa một dòng cho lần thử tiếp theo.